Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 27 khách Trực tuyến
Văn học
Mơ ước về hành trình di chuyển

 

Khi tôi 18

Tôi ước mình bước ra khỏi ranh giới làng quê

Giũ sạch mùi bùn đất

Bước lên đôi chân ngập dưới cánh đồng.

Khi tôi 20

Vừa rướn tới một ranh giới khác

Lại cồn cào cánh cò trong lời ru mằn mặn

Vào chính lúc đôi chân đã vấp phải mối giằng co, níu kéo.

Giấc mơ trở về bải hoải.

Khi tôi 25

Đã bại liệt hoàn toàn giấc mơ trở lại

Ngồi yên mơ sự di chuyển ngược chiều

Tôi ước mình có thể làm giàu

Mua một trang trại lớn

Nơi tôi có thể xây lên một ngôi biệt thự

Trồng nhiều rau

Có một chuồng bò

Hàng trăm con gà lớn nhỏ

Nơi có thể cấy lên đồng lúa

Và đón những người xóm làng kế cận.

Khi ấy

Mới đủ thuyết phục đón bố mẹ và những người thân di chuyển về thành phố.

Khi tôi 50

Đôi khi giật mình nhận ra mình đã từng mơ ước

Nghiệm ra chẳng có gì thành sự thật

Người thân cũng dần dần rời bỏ thế gian.

Khi không còn thiết nhớ tuổi mình

Sau giấc mơ sờ quanh vùng gối ướt

Nước nhãi chảy thèm con muồm muỗm nướng chiều đông.


Vũ Thị Huyền Trang (Hà Nội)

7/9/2008


 

 
Nhà văn Nguyên Hồng ngày ấy


Hơn 35 năm, tôi mới có dịp về lại Tân Yên, vùng quê trung du thân thương đã để lại trong lòng tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Nơi đầu tiên đã khơi dậy cho tôi niềm đam mê sáng tác văn học nghệ thuật..., nơi bác Nguyên Hồng - nhà văn lão thành đã dạy dỗ, khuyên bảo tôi những lời chân thật, chí tình mà suốt đời tôi không thể nào quên.

Tân Yên, vùng quê mới được tách lập ra từ huyện Yên Thế. Đất này có rừng cây rậm rạp hiểm trở, đồi núi điệp trùng, giăng thành chiến luỹ mà năm xưa thủ lĩnh Đề Thám đã đóng “đại bản doanh” lãnh đạo nghĩa quân anh dũng chống lại giặc Pháp ròng rã hơn 30 năm,  làm cho chúng nhiều phen kinh hồn bạt vía! Vùng quê có những đồi dẻ lúp xúp, mùa về nở  hoa trắng muốt, thơm nồng mùi hương sâu lắng trong đêm. Giữa chiều sương, những xóm đồi thưa thớt, thấp thoáng trong lùm cây xanh mờ ảo và nối nhau là những con đường mòn mầu đất đỏ au quanh co uốn lượn như dải lụa...

Tôi ngắm cảnh cũ mà ngỡ ngàng sửng sốt: Xóm đồi Dương Sơn bây giờ đổi thay nhiều quá! Tôi ghé vào một quán nước đầu làng, vừa nhâm nhi chén nước trà, lòng bâng khuâng đắm hồn vào những kỷ niệm xa xôi...

Ngày ấy...vào mùa hạ năm 1967, tôi nhận được công văn triệu tập  dự Trại sáng tác văn học do Ty Văn hoá Hà Bắc tổ chức. Lúc này giặc Mỹ đánh phá miền Bắc rất ác liệt, lại đang vào mùa nước to. Được đi học thì thích thật, song tôi cũng lo lắm. Sáu tháng trời mẹ tôi phải ở quê nhà lầm lũi một mình (vì tôi là con một), rồi lũ lụt, bom đạn, việc đồng áng, nhà cửa, rồi những lúc mẹ ốm đau lấy ai chăm sóc... Hiểu ý tôi, mẹ vui vẻ động viên rồi tong tưởi vào buồng “rốc bồ” cho tôi 90 cân thóc để chở lên cửa hàng lương thực Từ  Sơn bán đổi ra tem phiếu...

Thế  là tôi yên tâm “khăn gói gió đưa” lên tỉnh. Đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi xa nhà, xa mẹ và... người thương. Vượt qua lộ trình gần 60 cây số, lại phải tránh giờ “cao điểm”, tôi guồng xe chồn hai chân, hơn 4 tiếng đồng hồ mới tới Cao Thượng. Trời đã chập choạng tối. Từ dưới xuôi lên rừng, lạ nước lạ cái, đang lớ ngớ ở đầu đường thì tôi được anh Nguyễn Đình Bưu ra đón. Như kẻ “buồn ngủ gặp chiếu manh”, tôi mừng quýnh dắt xe theo anh vào xóm.

Ty Văn hoá Hà Bắc ngày ấy sơ tán về thôn Dương Sơn, xã Liên Sơn, huyện Tân Yên. Cơ quan nằm sát con đường chạy từ thị xã Bắc Giang đi Cầu Gồ. Ngoài căn nhà lợp lá gồi, tường trát bua, nền đất nện, kê một số bàn ghế gỗ thô làm “hội trường”, còn toàn bộ các phòng ban đều phải ở nhờ nhà dân, mọi sinh hoạt tiện nghi đều rất đơn sơ thiếu thốn. Tối đến, chúng tôi muốn hội họp, viết đọc đều phải thắp đèn dầu (mà còn hạn chế ánh sáng).

Gọi là Trại sáng tác văn học song chúng tôi chỉ vẻn vẹn có 7 người: Trần Quốc Thịnh, Đỗ Cường, Nguyễn  An Thu, Kim Ô, Anh Vũ, Tân Quảng và tôi. Nhìn chung đa phần là cán bộ  cơ quan thoát ly và ít nhiều đã có thơ văn in ở sách báo tỉnh và trung ương. Riêng tôi ít tuổi nhất (mười tám) lại là nông dân “đặc sệt”, về lĩnh vực sáng tác, văn chương chỉ là “lính mới tò te”! Thầy dạy suốt cả khoá học chúng tôi là nhà văn Nguyên Hồng. Ngoài ra Ty Văn hoá còn mời một số nhà văn, nhà thơ ở trung ương kết hợp cùng các anh trong ban biên tập văn nghệ của tỉnh như Nguyễn Phan Hách, Trần Ninh Hồ... đến trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm sáng tác.

Ngày đó, chiến tranh đang diễn ra ác liệt cả hai miền Nam Bắc. Cán bộ và nhân dân đời sống sinh hoạt thiếu thốn mọi thứ, ăn uống thì kham khổ. Chúng tôi mỗi ngày một người tiêu chuẩn chỉ ăn 4,5 lạng lương thực (kể cả hai phần ba là độn bột mỳ hoặc ngô) còn bớt lại nửa lạng “vì đồng bào miền Nam ruột thịt”. Có hôm hết gạo, chúng tôi phải ăn toàn bột mỳ (thậm chí bột mỳ để lâu đã mốc và có mọt). Cứ thế nhà bếp nắm vào rồi luộc ăn cùng với rau muống chấm nước đun sôi pha muối. ấy thế mà vẫn ngon đáo để. Nhiều bữa, cầm chiếc bánh bột mỳ luộc trên tay, thấy ruồi chết dính vào, anh Trần Quốc Thịnh còn nói oang oang: “Hôm nay bánh có nhân còn mọi hôm là bánh không người lái”! Rồi chúng tôi cùng cười vang cả bếp.

Gần hết khoá học, Ty Văn hoá cử chúng tôi đi thâm nhập thực tế các điểm điển hình trong tỉnh. Tôi và các anh Trần Quốc Thịnh, Đỗ Cường, Anh Vũ đi viết về đề tài chiến đấu. Ôi! Kể ra mới đầu được phân công đi cũng thấy ghê ghê! Phải vào toàn những nơi khói lửa bom đạn, nhưng ngày ấy chúng tôi hăng hái xông pha lắm. Nào là vào Trường đào tạo sĩ quan Lào, xóm điểm Ngọc Trì, đơn vị pháo 58 bảo vệ cầu Sông Thương, Nhà máy Đạm và thị xã Bắc Giang v.v... Những nơi trên đều là mục tiêu trọng điểm của máy bay Mỹ ném bom oanh tạc hàng ngày. Có nơi chúng tôi vào lấy tư liệu để viết, đất đá còn ngổn ngang nóng bỏng, khét lẹt hơi bom. Và sau những chuyến đi thực tế ấy, chúng tôi đều có tác phẩm ra đời...

Thế mà đã mấy chục năm trôi qua. Vùng quê trung du này đã có bao nhiêu điều thay đổi. Nhà ngói, nhà tầng mọc lên san sát, làng đồi rộn rã tiếng máy, tiếng loa gọi mùa vải chín...Ngắm nhìn chốn xưa, lòng tôi dâng lên nỗi niềm bâng khuâng khó tả. Cảnh cũ còn đây mà kẻ mất, người còn. Anh em, bạn viết xưa có người đã thành danh, mát mặt. Có người vẫn bươn bả long đong. Nhưng có lẽ đa phần là bình bình, thanh bạch. Thương nhớ anh Đỗ Cường đã đi xa vì căn bệnh hiểm nghèo... Và đặc biệt những kỷ niệm về thầy giáo - nhà văn Nguyên Hồng cứ dâng lên dào dạt.

Từ những năm học cấp hai, tôi đã say mê đọc “Bỉ Vỏ”, “Những ngày thơ ấu” của nhà văn Nguyên Hồng. Tôi cứ tưởng tượng ra người viết những con chữ “thần tình” ấy phải có diện mạo “cao siêu” lắm? Chí ít “dung nhan” cũng phải như “Lưu Bình - Dương Lễ” trong vở chèo cùng tên mà tôi đã xem không biết bao nhiêu lần.

Nhưng... Thầy Nguyên Hồng bằng xương, bằng thịt “xuất hiện” lần đầu ở “Trại viết văn” ngay trước mặt tôi, lại như trăm nghìn lão nông bình dị ở muôn nẻo làng quê Việt Nam. Ông “lão” mặc bộ quần áo nâu sồng đã bạc mầu, đầu đội mũ lá, đôi bàn chân đích thị của người lao động: Các ngón chân thô lúc nào cũng ngọ ngoạy không yên trong bộ...quai dép cao su! Thầy Nguyên Hồng có vầng trán rộng vuông; đôi mắt sáng lanh lợi, chòm râu lưa thưa phất phơ, lúc nào cũng rung rung “đánh nhịp” theo lời nói; giọng thầy ôn tồn, ấm áp và truyền cảm...

Gia đình nhà văn ở ấp Cầu Đen, xã Quang Tiến, cách Trại sáng tác văn học gần 10 cây số. Vậy mà ngày nào thầy cũng cọc cạch cặm cụi trên chiếc xe đạp “Thiếu nhi Liên Xô” (Chúng tôi vẫn gọi đùa là xe “Pơ rô con vịt”) đủ 4 lượt đi về. Mặc mưa gió, nắng thiêu, thầy không bao giờ chậm giờ lên lớp, dù chỉ là...một phút! Sau này tôi mới biết, lúc ấy gia đình thầy rất neo đơn: Vợ nhà văn luôn đau yếu, các con đông lại học hành xa, tất cả gánh nặng cuộc sống gia đình đều đặt lên đôi tay và... ngòi bút của nhà văn!

Có một lần, tình cờ tôi gặp thầy Nguyên Hồng đang vã mồ hôi trên chiếc “Pơ rô con vịt”, đằng sau nhũng nhẵng... hai sọt cà chua chín mọng. Thì ra, nhà văn “tranh thủ” chở cà chua từ Nhã Nam về chợ Cao Thượng “kết hợp” buôn chuyến! Kể lại chuyện này tôi lại rơm rớm nước mắt nhớ thương, cảm phục sức lao động bền bỉ phi thường của thầy giáo - nhà văn Nguyên Hồng.

Lớp “văn sĩ” trong Trại sáng tác văn học ngày ấy rất tự hào đã được học “văn” và “người” của thầy Nguyên Hồng... Lúc đó tôi ít tuổi nhất lớp, lại là nông dân “chính hiệu” nên được thầy luôn để ý, kèm cặp... Một chiều thu, Nguyên Hồng với chiếc áo khoác màu da bò cũ  kỹ, ống tay và cổ áo đã sờn, ông đi đi, lại lại trước cửa hội trường. Thấy lạ, tôi trịnh trọng lên tiếng:

- Thưa bác, hôm nay bác không về ạ?

- Toản hả, ờ! Bác ở lại tối nay bận làm việc với anh Dương (tức đồng chí Lê Hồng Dương, Trưởng Ty Văn hoá).

Chắc có việc gì đột xuất, tôi không hỏi thêm, chào nhà văn và một mình tha thẩn đi lên đồi thông. Chiều trung du đẹp đến mê hồn, phía Tây ráng vàng rực rỡ, lơ đãng một vài dải mây mỏng tang đang lững thững trôi, một đôi chim lạ bay ngược về phương Nam. Tôi ngồi xuống bên gốc cây, nghe gió thông reo, mở cặp ba dây bìa các tông làm giá, mải mê phác hoạ bức tranh “Chiều trung du”... Thầy Nguyên Hồng đến cạnh từ lúc nào không biết, tôi định đứng lên chào thì ông đã vỗ nhẹ vào vai tôi:

- Cứ vẽ đi, kẻo lại mất cảm hứng!

Rồi nhà văn cùng ngồi xuống, ông xem tranh và nhận xét từng chi tiết rất kỹ. Tôi thật bất ngờ: Nguyên Hồng am hiểu sâu sắc tường tận về hội hoạ. Sau đó ông hỏi chuyện tôi về gia đình, về những dự định tương lai... Với giọng nói gấp gấp, nhiệt tình nhà văn kể cho tôi nghe việc ông đi bán báo, đánh giầy, lao động cật lực cùng với những người phu khuân vác ở cảng Hải Phòng, rồi việc ông “chui” vào “nhà chứa”, “lặn” xuống tận gầm giường để tìm “cảm hứng” viết lên tiểu thuyết “Bỉ vỏ” nổi tiếng...

Bỗng nhiên, giọng nhà văn trầm hẳn xuống, lời ông dịu dàng thủ thỉ như cha khuyên con:

- Toản ơi! Cháu nhiều tài quá đấy. Nhưng cháu nên “giết” bớt nó đi, chỉ để lại và nuôi dưỡng những gì mà mình yêu thích nhất, có vậy mới chóng thành sự nghiệp cháu ạ!

Câu nói của nhà văn Nguyên Hồng rất thẳng thắn, chân tình tôi nhớ mãi “chiều trung du” ấy và lấy lời khuyên bảo đó làm bài học cho mình trong cuộc sống. Ngày ấy, đang tuổi mười tám sôi nổi, mộng mơ, tôi ước muốn nhiều thứ lắm. Thấy việc gì thích thì lại lao vào làm chẳng nghề gì là “chuyên sâu” cả... Cho đến ngày nay khi đã cao tuổi tôi càng thấm thía lời khuyên của nhà văn như lời đúc kết của ông cha xưa để lại: “Một nghề cho chín, hơn chín mười nghề”.

Vài hôm sau đó, vào một ngày chủ nhật, tôi lên ấp Cầu Đen thăm nhà văn. Lại một lần nữa tôi bị bất ngờ đến sững sờ: Ngôi nhà ông ở lụp xụp đơn sơ, đồ đạc trong nhà không có gì đáng giá. Tôi thấy ông đang “gò lưng” trên chiếc bàn viết là... một hòm đạn, mặt trên ghép bằng phên nứa ọp ẹp, bập bềnh. Vợ ông tay cầm chiếc mo cau đã nhẵn bóng vệt mồ hôi, phe phẩy quạt mát cho ông. Hôm ấy trời nắng nóng. Vầng trán vuông của nhà văn bóng nhẫy mồ hôi. Ông ngẩng lên mời tôi uống nước rồi lại cắm cúi xuống trang giấy hẩm, chòm râu thưa rung rung, ngòi bút lại miệt mài, cần mẫn viết tiếp những dòng suy nghĩ vừa “bị” gián đoạn... Tôi thấy ái ngại và thương ông quá! Thế mà từ căn nhà nhỏ bé bình dị toàn tranh tre nứa lá, từ chiếc bàn tự tạo bằng phên liếp ấy, nhà văn đã cho ra đời những tác phẩm văn chương bất hủ.

Sức làm việc, sáng tạo của Nguyên Hồng thật phi thường bởi ông là nhà văn của nhân dân, của những người lao động cùng khổ? Ông thật xứng đáng được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Nguyên Hồng buông cây bút viết vào một ngày đầu Hạ: Mồng 2 tháng 5 năm 1982. Nhà văn sinh ra ở Nam Định, tuổi trẻ bươn trải kiếm sống tại Hải Phòng, phần lớn cuối đời ông sống và làm việc tại Bắc Giang - Mảnh đất nhà văn yêu mến, tâm huyết cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng. Mộ ông đặt tại ấp Cầu Đen xã Quang Tiến vĩnh hằng cùng “Núi rừng Yên Thế”...

Sinh thời, có lần nhà văn được tiền nhuận bút tiểu thuyết “Sóng gầm” vừa in xong, ông mang toàn bộ số tiền “bé nhỏ” ấy tặng cho Trường cấp hai xã Quang Tiến. Nhà trường đã kịp thời “ngói hoá” được hai phòng học đầu tiên của nhà trường. Cảm phục trước tấm lòng vàng của Nguyên Hồng, nhân dân địa phương đã đóng góp tiền của, công sức “ngói hoá” các phòng học còn lại cho con em xã mình. Ai ngờ, nhuận bút “Sóng gầm” đã mang lại lợi ích thiết thực, ý nghĩa lớn lao đến vậy. Đó cũng là ước nguyện, mong muốn được chăm chút, vỗ về, nâng niu nuôi dưỡng con người bắt đầu từ con chữ của nhà văn.

Hơn 35 năm qua... “Sóng” biển Hải Phòng vẫn “gầm” vang trên “Núi rừng Yên Thế”; Ráng đỏ Phồn Xương vẫn bừng lên cho “Chiều trung du” lộng lẫy ánh vàng...Giờ đây, mỗi lần có dịp tới Nhã Nam, tôi không quên ra mộ đặt bó hoa tươi, thắp tuần nhang ngát và chắp tay kính cẩn tưởng nhớ thầy giáo - nhà văn tài  ba danh tiếng nhưng rất đỗi gần gũi giản dị, thân thương. Những kỷ niệm năm xưa ở “Trại viết văn thời chiến” lại dạt dào tràn về và lời khuyên của bác Nguyên Hồng trên đồi thông ngày ấy văng vẳng, văng vẳng bên tai, theo tôi đi suốt cuộc đời.

P.T




 
Rút thưởng


Truyện ngắn

Vũ Phong Tạo dịch

(Theo Bán nguyệt san “Truyện mini chọn lọc”, TQ)


 

Ăn xong cơm chiều, tôi dẫn con trai đi bách bộ, bỗng gặp mặt Cục trưởng Vương cùng ở trong một ngôi nhà chung cư đi đến. Cục trưởng Vương móc trong túi áo ra hai tấm vé xem phim, nói:

- Người ta tặng hai tấm vé xem phim tối nay, tôi không có thời gian đi xem, cho hai cha con ông đấy!

Khi phim chiếu được một nửa, đèn trong rạp bỗng bật sáng choang, tôi ngẩng đầu nhìn thấy một bức hoành vuông treo trên màn bạc, mới biết một xí nghiệp đã mua toàn bộ vé chiêu đãi. Lúc ấy, Tổng giám đốc của xí nghiệp này bước ra sân khấu nói:

- Nhằm cảm ơn sự ủng hộ của lãnh đạo cấp trên, các đơn vị nghiệp vụ cấp trên và toàn thể công nhân viên chức, bây giờ xin tiến hành rút thưởng!

Tiếp theo, ông ta tuyên bố nguyên tắc rút thưởng:

- Căn cứ theo số ghế ngồi ghi trong vé xem phim, lần lượt rút các giải thưởng: Đặc biệt, Nhất, Nhì và Ba. Giải đặc biệt là một bộ máy quay phim “Báu vật trong tay”.

Khi Tổng giám đốc tuyên bố số 15 dãy ghế 10 trúng giải đặc biệt, tất cả khán giả trong rạp đều quay nhìn vào tôi. Đầu óc tôi choáng váng, sau một lát tĩnh tâm trở lại, tôi vội lấy vé xem phim ra đối chiếu kĩ càng một lượt, mới xác định tôi trúng giải đặc biệt thật rồi.

Tổng giám đốc cũng rất ngỡ ngàng trước việc tôi trúng thưởng. Ông ta cầm tấm vé lật đi lật lại xem mấy lượt, hỏi:

- Vé xem phim của ông lấy ở đâu ra?

Tôi đành phải nói thực:

- Vé xem phim là người khác cho!

Tổng giám đốc nói:

- Hôm nay, ông rất may mắn, giải thưởng này xin mời ông nhận.

Phát phần thưởng xong, lại tiếp tục chiếu phim, song tôi không tài nào ngồi yên được, kéo tay con định lặng lẽ chuồn ra.

Vừa ra đến cửa, Tổng giám đốc đã dẫn hai người chặn lối đi của tôi. Ông ta hỏi tôi:

- Vé của ông có phải Cục trưởng Vương cho không?

Tôi đáp:

- Đúng thế!

Tổng giám đốc lại hỏi:

- Ông quan hệ với Cục trưởng Vương thế nào?

Tôi mất hứng đáp:

- Chúng tôi là láng giềng!

Tổng giám đốc gượng gạo cười, nói:

- “Báu vật trong tay” là quà đặc biệt dành cho Cục trưởng Vương, mong ông chuyển giao cho ông ấy. Chúng tôi đã chuẩn bị quà riêng cho ông là một cái nồi áp suất!


 


 
«Bắt đầuLùi414243444546Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)