Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 22 khách Trực tuyến
Văn học
Có một Hải Phòng


Có một Hải Phòng ở ngoài Hải Phòng

Ở muôn phương lòng ta thương nhớ

Âm vang còi tầu, dập dồn sóng vỗ

Chớp sáng đảo đèn Hòn Dáu, Long Châu.

Những người con Hải Phòng bươn trải đâu đâu?

Đài Bắc, Hồng Công, Pari hoa lệ

Chất ngất Hoàng Liên Sơn, Cà Mau trập trùng sóng bể

Những phương trời khác màu nắng, màu hoa.

Rừng Trường Sơn chiến tranh đi qua

Hàng bia mộ khắc tên chiến sĩ

Quê quán Thuỷ Nguyên, An Hồng, Đông Khê, Kiến Thụy

Những anh hùng từ đất Cảng sinh ra.

Hải Phòng!

Con tàu anh lướt sóng Trường Sa

Bám biển đêm ngày giữ biên cương Tổ quốc

Hải Phòng!

Có em sau giờ lên lớp

Nâng ly cà phê lặng ngắm phủ Tây Hồ

Hải Phòng

Hải Phòng trong mỗi người con xa

Chung giọng nói vang trầm đằm vị mặn

Vòng tay bạn xiết tay tôi vô tận

Làm nên Hải Phòng

Đối diện biển Đông!


Vũ Thành Chung


 


 
Làng ven đê


Bút ký

CAO NĂM


Đi trên đê hữu ngạn sông Thái Bình, thuộc địa phận huyện Vĩnh Bảo, nhìn xuống dưới chân đê, dọc một dải chạy dài từ xã Tân Liên, xã Vĩnh An, rồi lên Giang Biên thấy lố nhố những mái nhà lợp tôn kẽm màu mận, màu xanh và cả màu xám xỉn của tôn xi-măng nằm gọn trong từng khu, từng khu, có tường bao xung quanh, nhiều khu đường vào lại còn có cái cổng to rộng như cổng làng. Bên cạnh những mái nhà tôn là những khóm cây, phần nhiều mới trồng nhưng đã sum xuê, có chỗ cành lá la đà sát sàn sạt mái nhà. Các khu nằm gần nhau, nhác trông như những xóm làng trù phú, yên bình nằm nép mình ven chân đê, có khu đường đi lại thuận tiện, mặt đường rải gạch vỡ đầm nhỏ, hoặc xỉ than, xỉ lò gạch, nhưng cũng có khu còn nguyên đường đất nham nhở ổ gà, sống trâu, hai bên cỏ mọc xanh rì. Từ trên đê nhìn xuống, nếu không nghe nói trước thì không thể ngờ những khu nhà nằm như bát úp ven chân đê kia là trang trại chăn nuôi lợn gà, làm nấm, trồng cây, thả cá của những người nông dân mới cách đây chỉ mươi năm thôi, có lẽ trong đầu chưa có khái niệm gì về trang trại. Vậy mà- như cách nói của một anh ở huyện lúc trưa ngồi cùng bàn ăn, quay đi quay lại chỉ khoảng dăm bảy năm lại đây thôi, mà hàng loạt trang trại của nông dân các xã đã thi nhau mọc lên.

Trong hai mươi chín xã của huyện Vĩnh Bảo, tính đến cuối năm 2010, đã có 300 trang trại của các hộ nông dân, nhiều nhất các huyện của Hải Phòng. Có nơi như xã Vĩnh An, chỉ riêng chăn nuôi lợn ngoại siêu nạc đã có tới mười bốn trại, công ty gia công chăn nuôi có trụ sở ở Xuân Mai Hà Nội, cử hẳn một kỹ sư về “ba cùng” ở xã để giúp trang trại làm tốt các khâu kỹ thuật. Huyện không những có hẳn một nghị quyết và văn bản hướng dẫn đầu tư xây dựng trang trại, quy định cụ thể loại đất được dành làm trang trại là đất ven chân đê, xa làng xóm để không lấn ruộng mật điền và gây ô nhiễm môi trường dân cư, nguồn nước; mà còn đứng ra làm đầu mối chuyển giao công nghệ từ cơ sở khoa học và nhà doanh nghiệp đến với nông dân. Thậm chí có việc mới và khắt khe thời vụ như nuôi trồng nấm ăn từ nguồn rơm rạ, huyện còn thuê hẳn một kỹ sư của Viện Công nghệ sinh học trung ương về làm việc tại huyện, do huyện trả lương, chỉ để hướng dẫn mỗi xã hai người nắm vững kỹ thuật làm nấm (từ ươm ủ đến thu hoạch, bảo quản) và cùng với cán bộ chuyên môn huyện chỉ đạo, hướng dẫn nông dân làm nấm đúng thời vụ, đúng kỹ thuật. Bởi làm nấm ăn từ rơm rạ là việc còn rất mới với nông dân; không những thế lại mang tính thời vụ khắt khe, mỗi năm chỉ làm chừng hai tháng, nếu thu hoạch rả rích cũng hơn kém ba nhăm, bốn mươi ngày là cùng nhưng giá trị kinh tế lại cao. Một cân nấm người buôn mua ngay tại trang trại cũng ngang giá bốn, năm cân thóc, còn nếu có điều kiện mang lên phố bán còn được giá hơn nữa. Thế nên, làm nấm một vốn bốn lời như chị cán bộ phòng nông nghiệp huyện nói với tôi trên đường đi xuống xã. Còn nguyên liệu làm nấm chủ yếu là rơm rạ lại rất sẵn. Theo tính toán, với diện tích từ 9.300 đến 10.000 héc-ta gieo cấy khá ổn định của một huyện được giao nhiệm vụ trọng tâm là bảo đảm an ninh lương thực cho thành phố Hải Phòng, sau mỗi vụ thu hoạch lúa mùa, toàn huyện còn có thể thu được mấy chục vạn tấn rơm rạ. Số rơm rạ này những năm trước phần nhiều bà con gặt đập xong là đốt ngay tại ruộng, vì bây giờ việc đun nấu trong gia đình nông dân cũng không mấy nhà còn dùng rơm rạ như trước mà phần đông dùng bếp than, hoặc những nhà có điều kiện thì dùng bếp ga,  bếp điện; còn trâu thì, nói như ông Hào ở xã Vĩnh An, người có trang trại làm nấm ngay trên khu đất trại nghé của hợp tác xã thời bao cấp, số trâu nghé của cả xã bây giờ chỉ còn chưa đến hai mươi con. Thế mới có chuyện, cứ đến vụ gặt tháng mười khô hanh là khắp đồng xa, ruộng gần những đám cháy rơm rạ bốc khói mù mịt, thậm chí có chỗ còn gây hỏa hoạn nhà cửa và tai nạn cho người đi đường. Thế nhưng năm nay, khi tôi về huyện Vĩnh Bảo thì vụ mùa vừa thu hoạch xong, qua những cánh đồng ở Cổ Am, Liên Am, Nhân Hòa rồi Tân Liên, Vĩnh An không thấy chỗ nào đốt rạ rơm khói um từng đám như mấy năm trước. Khi làm việc ở huyện tôi được biết, vụ nấm năm nay dự kiến toàn huyện sản xuất ba nghìn tấn nấm ăn từ rơm rạ, như thế phải cần tới hàng vạn tấn rơm rạ khô. Vì thế nguồn rơm rạ trên đồng đang được tận dụng triệt để và cảnh đốt rơm rạ trên đường, dưới ruộng không còn tái diễn khắp nơi là điều dễ hiểu. Quả là thời đại khoa học kỹ thuật len lỏi vào tận các gia đình nông dân nơi thôn dã. Chỉ mươi năm trước thôi, khó ai có thể nghĩ rơm rạ ngập ngụa trên đường làng, ngoài đồng ruộng lại có thể cho món nấm ăn khoái khẩu như bây giờ. Thế nên…

- Những trại làm nấm bây giờ đúng là “mọc lên như nấm” - Ông Nguyễn Văn Hào, 48 tuổi, một chủ trang trại nấm ở thôn Kim Ngân, xã Vĩnh An, vừa dẫn tôi đi xem chỗ làm nấm vừa nói vui. Rồi như sợ tôi không tin, ông liền dẫn ra con số:

- Xã Vĩnh An vụ này có tới hai mươi nhà làm nấm rồi bác ạ.

- Lập một trại nấm như nhà bác thế này có mất nhiều công lắm không?

Ông Hào ra ý thận trọng, đưa mắt nhìn bà vợ đang gom đám rạ trên sân dồn lại một đống để chuẩn bị ủ mục. Chờ tôi và ông bước vào nhà, ngồi xuống mấy cái ghế nhựa để lổng chổng ngay cửa ra vào, bà mới dựng cây gẩy rạ ngoài cửa, vào ngồi xuống cái ghế cạnh ông. Dường như nghe được câu chuyện giữa tôi và ông lúc ở ngoài, bà nói ngay:

- Công thì chả biết đâu mà tính. Vì vợ chồng tôi khi ra đây lập trại các cháu còn ở nhà cả, nhiều việc như đóng gạch, vượt nền nhà, lán trại vợ chồng, con cái làm là chính. Chỉ những lúc cập kỳ, nhà làm không kịp mới phải mượn người, thì cũng toàn anh em họ đương cả.

- Ngoài công làm ra, ông bà có phải đầu tư gì nhiều nữa không?

- Làm cái nấm ăn này khó thì thật khó, nhưng dễ cũng thật dễ - Vẫn giọng bà Nghiêm Thị Hồng, vợ ông Hào, kém ông hai tuổi, một người đàn bà hoạt bát và mau mắn. Bà Hồng như lần lại những ngày đầu hai vợ chồng và ba đứa con, với hai bàn tay trắng, từ trong làng Kim Ngân sầm uất và trù phú, ra vùng ven đê heo hút này lập trại - Cái năm nhà tôi ra đây, may vào đúng dịp huyện đang hỗ trợ cho mỗi hộ làm nấm ba triệu đồng để làm lán trại. Vì lán trại nuôi trồng nấm chỉ làm bằng tre nứa thôi, nên với nhà tôi số tiền huyện cho thế là đủ làm cái lán rộng gần ba trăm mét vuông mà bác vừa vào xem đấy. Như nhà tôi từ đầu đến giờ chỉ làm nấm mỡ. Giống nấm này làm từ rạ, vậy là phải nắm được mỗi tấn rạ ủ với bao nhiêu cân nấm giống. Rồi còn bột nhẹ, lân, ka-li cũng đều có công thức kỹ thuật, huyện cho in thành tờ hướng dẫn phát đến từng hộ, để nhà nào nhà nấy xem đấy mà làm. Cũng tiện lắm. Chẳng hạn như nhà tôi vụ này định làm năm tấn nấm mỡ là ngay từ mấy tháng trước đã phải đăng ký với huyện mua năm tạ nấm giống, một trăm năm mươi cân bột nhẹ, ngoài ra còn lân, ka-li; đấy là chưa nói đến rạ, cứ ba tấn rạ làm được một tấn nấm, thì cũng phải chuẩn bị mươi mười lăm tấn mới đủ. Chả thế thì sao, mình cứ xem tờ hướng dẫn trên phòng nông nghiệp họ phát cho để mà làm, vụ trước vụ sau là quen ngay. Rạ ở ngoài đồng không phải mua, nhưng vào vụ gặt cũng phải đến từng nhà hỏi xin, mất gì câu nói, được lời như cởi tấm lòng, những nhà không làm thì giữ rạ chỉ tốn công dọn ruộng, nên ai người ta chả cho. Còn thu gom rạ thì phải mượn thêm người, như vụ này tôi vừa mượn bốn, năm người làm mấy ngày mới mang được ngần ấy rạ về ủ đống ngoài kia, chứ hai vợ chồng tha đến bao giờ mới xong hàng chục tấn rạ.

Ngồi nghe bà Hồng nói cách làm nấm mỡ từ rạ như thể nói về cách cấy lúa, trồng khoai đã trở nên quen thuộc với người nông dân từ bao đời, tôi lại thêm hiểu những vỉa tầng đổi thay trong mỗi con người, mỗi vùng quê mà nếu chỉ lướt qua đường hay tạt ngang, rẽ dọc đâu đó cũng rất khó nhận ra. Thế nên tôi cũng muốn biết giữa làm lúa và làm nấm như nhà ông bà đây, đằng nào hơn. Ông Hào nói ngay:

- Nhà tôi mấy năm nay không cấy nhiều như trước nữa. Nhà năm khẩu, được chia bảy sào rưỡi ruộng, vợ chồng tôi đổi hết ra đây lập trại nấm. Có cấy một ít quanh trại lấy thóc ăn, khỏi phải đong; còn làm nấm vẫn là chính.

- Mới lại nhà tôi giờ chỉ còn hai vợ chồng, ăn cũng chả hết mấy - Bà Hồng chen lời chồng.

- Con ông bà có cháu nào đi làm chưa?

- Không, các cháu còn đang đi học chứ đã đứa nào đi làm đâu. à, có đứa con gái học Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội, mới ra trường về làm ở Hải Phòng mấy tháng nay. Còn hai thằng vẫn đang học Đại học Công nghiệp mãi trên Thái Nguyên. Thế mà cứ ở làng làm ruộng thì làm sao có tiền cho con ăn học được hả bác. Vâng, cũng phải thế, mỗi đứa một triệu một tháng; đứa con gái học ở Hà Nội thì còn hơn, có tháng phải cho chị ấy đến triệu tư, triệu rưỡi.

Tôi đang định hỏi làm nấm thế này mỗi năm thu về được bao nhiêu tiền, nhưng nghe bà Hồng nói thế tôi chỉ còn biết suýt xoa mừng cho ông bà thế này mà nuôi được ba người con ăn học cao đẳng, đại học mãi trên Hà Nội, Thái Nguyên thì quá giỏi. Nhưng dường như sự thán phục của tôi chẳng làm ông bà ngỡ ngàng nên khi tôi dừng lời, ông Hào nói ngay:

- Thôi thì nhà nghèo, không có gì để lại cho con cái thì cứ thắt lưng buộc bụng cho chúng ăn học để có cái chữ đã bác ạ.

- Ông nói thế chứ thực ra nhà tôi từ ngày lập trại làm nấm mỡ ngoài ven đê, mỗi năm thu hoạch hơn không nói, chứ bảy, tám mươi triệu là được, bà Hồng nói như đỡ lời chồng rồi lại tiếp, còn vụ nấm này, nhà tôi đã đăng ký với huyện lấy năm tạ nấm giống. Nhờ giời mà thuận thì có năm tấn nấm, chỉ bán tại nhà với giá hai mươi nghìn đồng một cân như năm ngoái thì gì chứ trăm triệu tiền nấm là được. Đấy là chưa kể tiền thu về nuôi cá trên cái ao rộng gần hai sào kề bên cái lán làm nấm, và đàn gà ngan vài chục con thả trong khu chăn nuôi phía ngoài ao.

Tôi nhẩm tính gọn trăm triệu cho hai vợ chồng và ba đứa con, bình quân mỗi người hai mươi triệu, hoặc chi li hơn là gần một triệu bảy trăm nghìn đồng một người một tháng. Với những hộ ở thành thị thì chưa là cái gì, nhưng với gia đình nông dân thì đã có thể xếp vào loại khá giả bởi chuẩn nghèo theo tiêu chí mới ở nông thôn hiện nay là có mức thu nhập bình quân bốn trăm nghìn đồng một người một tháng nhưng ông Hào vẫn bảo: “Nhà tôi làm nấm là lưới nhỏ bắt cá bé thôi, chứ những nhà có sức như vợ chồng ông bà Đĩnh bên kia, tí nữa bác sang mà xem, nuôi toàn lợn ngoại siêu nạc, mỗi lứa đã có hàng trăm triệu ấy chứ”.

Lời ông Hào thật ứng nghiệm, vừa nhắc đến vợ chồng ông bà Đĩnh, đã nghe tiếng xe máy vè vè quặt vào sân, rồi phanh kít ngay cửa. Từ trên xe một người đàn bà chừng năm mươi tuổi, vận quần bảo hộ lao động, áo hoa nâu, cặp tóc dài buông thõng sau lưng, dựng chiếc xe Drem ngoài cửa, rồi bước nhanh vào ghế ngồi. Chị cán bộ phòng nông nghiệp huyện cùng đi với tôi quay ra giới thiệu: “Đây là bà Đĩnh vợ ông Đặng, có trang trại chăn nuôi lợn ngoại siêu nạc bên làng An Cầu mà ông Hào vừa nói. Bác làm việc với vợ chồng ông Hào xong thì bà Đĩnh dẫn bác về bên ấy, còn em phải xin phép về trước đón cháu”. Tôi từng “khi đi có bạn, khi về lẻ loi” kiểu này những lần nhờ người của huyện dẫn xuống xã, nên vui vẻ cảm ơn và chào từ biệt chị cán bộ phòng nông nghiệp huyện. Chờ chị ra khỏi cổng, bà Đĩnh quay lại hỏi tôi đi được chưa. Dĩ nhiên là tôi sẵn sàng.

Hai chiếc xe máy ra khỏi ngõ nhà vợ chồng ông Hào là nhảy tâng tâng trên bờ đê nham nhở, gập ghềnh “đường trường mái chèo”, nhưng bà Đĩnh ngồi trên chiếc xe Drem màu mận cứ lái đi vun vút, bất chấp đường xấu, đến tôi ngồi sau anh lái xe ôm thị trấn huyện to béo là thế mà chốc chốc vẫn bị anh ta cho những cú xóc như xóc ốc, tưởng một hai hất người ra khỏi xe. Tôi thỉnh thoảng cũng nhìn thấy những người đàn bà đi xe máy táo bạo luồn lách, có khi còn leo lên tận vỉa hè đi cho nhanh, nhưng đấy là đường nhựa phẳng lì trong phố; chứ còn đường nông thôn, nhất là đường ngoài đồng, bờ đê chỉ toàn đường đất, lại thêm mặt đường xấu thậm tệ thế này mà chạy phăm phăm như bà Đĩnh thì nói có giời làm chứng, tôi mới chỉ thấy có bà là một. Thế nên, vừa ngồi xuống bên bàn trà để ngay ở sân trang trại của vợ chồng ông bà, khi bà kéo ghế ngồi cạnh ông chồng, một người gầy nhỏ, khắc khổ, nhưng có nước da săn chắc là tôi nhận ra ngay cái dáng người bà thế kia thì không những chỉ vững tay lái xe máy chạy trên bờ đê, mà còn có gan làm nhiều chuyện “tày trời” nữa. Có lẽ tôi đoán không nhầm, bởi chỉ nhìn ông Đặng người nhỏ thó có phần chậm chạp chứ không được sức vóc, nhanh nhẹn, tháo vát như bà vợ, là đã có thể biết chính bà mới là người chèo chống trang trại có hàng nghìn con lợn ngoại siêu nạc, ngang với một nông trường chăn nuôi thời bao cấp. Ông Đặng hơn vợ có bốn tuổi, năm nay ông năm mươi nhăm, nhưng trông ông vận bộ quần áo bộ đội cũ màu bạc thếch, ngồi chân co chân duỗi ôm lấy cái điếu, dáng vẻ ốm yếu, ngỡ ông đã ngoài sáu mươi. Như đọc được ý nghĩ của tôi, bà Đĩnh bảo:

- Nhà tôi trông thế nhưng mắt một bên bị mờ, lại nặng tai. Nhà tôi bị thương, ảnh hưởng đến não.

Bà Đĩnh vừa dứt lời, tôi quay nhìn sang ông Đặng, cất tiếng hỏi to hơn bình thường:

- Ông đi bộ đội bị thương ở chiến trường nào?

Ông chưa kịp lên tiếng thì bà vội đỡ lời:

- Cả hai chúng tôi đi thanh niên xung phong cùng một đợt năm bảy tám (1978), ra thẳng biên giới. Hồi năm bảy chín ông nhà tôi bị thương, thương tật hạng ba trên bốn. Năm tám hai tôi về quê làm ruộng; còn ông ấy chuyển sang Xí nghiệp Xây dựng thủy lợi Quảng Ninh, đến năm tám chín thì về một cục. Làm ruộng thôi, chứ vùng tôi đây có nghề ngỗng gì đâu. Khi hợp tác xã giao ruộng khoán lâu dài, nhà tôi có hai vợ chồng và ba đứa con, hai trai một gái, được nhận đúng sáu sào. Thóc lúa thì nói làm gì, tiếng là nhà năm người ăn có sáu sào ruộng nhưng vụ nào  nhà tôi cũng phải thu tấn hai, tấn rưỡi thóc. Nhưng thời nay đâu chỉ lo mỗi cái ăn, còn bao nhiêu thứ chi tiêu mà mình không thể tính trước. Ngay như tiền đóng học cho ba đứa con mỗi lần đến kỳ là lo sốt vó; còn bao thứ tiền khác. ở nhà quê, bác tính, nào ma chay, cưới xin, giỗ chạp rồi vào nhà mới, con đầy tháng, thôi thì tất tần tật đã mời là phải đi, đã đi là phải bằng tiền. Mà tiền ở nhà quê thì bác tính, làm gì ra ngoài bán cân thóc, đấu gạo và nhiều lắm mỗi năm có lứa lợn vài trăm nghìn chứ mấy. Nên khi trên có chủ trương khuyến khích nông dân chuyển đổi sản xuất, vợ chồng tôi bàn nhau đổi quách ruộng trong đồng ra ngoài này lập trại chăn nuôi lợn.

- Anh chị có phải vay nợ nhiều không?

- Có chứ, chả vay tiền ngân hàng để đấu cố thêm đất của xã, thì bác tính làm sao khu trại nhà tôi được rộng thế này, tất cả là hai mẫu hai sào đấy. Ngoài khu này ra, ở sau trang trại bên kia nhà tôi cũng mới mua hai mẫu nữa, định ra giêng lập trại nuôi gà ở bên ấy.

Tôi đã đến trại gà của vợ chồng anh Nguyễn Văn Tuấn và chị Vũ Thị Hương ở làng Thiết Tranh. Hai vợ chồng còn rất trẻ, chồng ba tư, vợ ba mươi nhưng suốt từ năm 2006 đến nay, anh chị đưa trại gà từ chỗ chỉ có diện tích mặt bằng ba sào vừa ở, vừa làm lán trại chăn nuôi thế mà nay đã mở rộng tới hơn một mẫu, với lượng gà nuôi thịt có năm nghìn con, toàn loại gà lông trắng phau phau. Với số gà này trong vòng hai tháng rưỡi, khi xuất chuồng anh chị đã có thể thu hơn hai mươi triệu đồng, một năm nuôi bốn lứa, hơn hai vạn con gà thịt, tính ra mỗi năm trại gà của vợ chống Tuấn thu trên dưới một trăm triệu. Thế nên, giờ ngồi ở trại lợn của vợ chồng ông Đặng, nghe bà Đĩnh nói ý định tới đây lập thêm trại nuôi gà tôi càng cảm phục suy nghĩ táo bạo mà thiết thực của ông bà. Bởi tôi biết công việc ở trại nuôi lợn với hai dãy chuồng, mỗi dãy nuôi từ 500 đến 600 con, chỉ trong năm tháng đã xuất chuồng thì chỉ chăm bẵm đàn lợn thôi cũng đủ khướt, còn sức đâu mở thêm trại gà. Nhưng khi nghe tôi nói điều ấy bà Đĩnh bảo:

-Nuôi cái anh lợn ngoại siêu nạc này khó thì thật khó, nhưng dễ cũng thật dễ bác ạ.

Rồi bà nói cặn kẽ công đoạn chăn nuôi, từ khi đưa lợn giống có trọng lượng mỗi con từ 4,8 đến 5 ki-lô-gam vào chuồng, sau 5 tháng xuất chuồng trung bình mỗi con nặng từ 100 ki-lô-gam trở lên là đạt định mức. Nhà tôi nuôi mấy năm nay, cứ đều đặn hai năm được năm lứa lợn xuất chuồng nhưng chưa lứa nào có lợn bị hụt trọng lượng, có lứa còn có tới hàng trăm con lợn cân nặng tạ tư, tạ rưỡi. Kỹ thuật thì dứt khoát phải theo đúng ba-rem của công ty người ta giao cho mình rồi, chính xác đến từng tháng tuổi của lợn, chứ không thể tùy tiện. Chẳng hạn, chỉ tiêu kỹ thuật người ta hướng dẫn, cứ cho lợn ăn hai ki-lô-gam rưỡi cám thì tăng trọng được một ki-lô-gam lợn hơi, mà mình không làm đúng thì lấy đâu ra bù. Ngay đến giờ giấc ăn uống, vệ sinh chuồng trại, tắm rửa cho lợn cũng đều có hướng dẫn đối với từng tháng tuổi của lợn và thời tiết mùa vụ. Nghiêm ngặt thế, chứ không, chính mình bị thiệt, bởi định mức lợn chết, không do dịch bệnh, công ty người ta chỉ cho mức mỗi lứa bằng hoặc dưới ba phần trăm tổng đàn, thế mà để sơ sảy là mình thiệt. Nhà tôi đã mấy năm nuôi lợn ngoại siêu nạc, chưa khi nào để lợn chết tự nhiên đến ba phần trăm, chứ đừng nói hơn.

Tôi ngồi nghe bà nông dân làng An Cầu xã Vĩnh An, cách nội thành Hải Phòng gần bốn mươi cây số, có trang trại nằm mãi chân đê hữu ngạn sông Thái Bình mà có tới hai dãy chuồng lợn, mỗi dãy nuôi năm, sáu trăm con, lại toàn lợn ngoại siêu nạc. Nói về kỹ thuật chăn nuôi lợn theo dây chuyền công nghiệp, từ pha chế cám bã, đổ vào máng cho lợn ăn, đến tắm rửa cho lợn, vệ sinh chuồng trại, mọi việc đều được vận hành theo hệ thống liên hoàn, mà có lúc bán tin bán nghi, người đang nói với mình là ai đây, chị cán bộ kỹ thuật phòng nông nghiệp huyện dẫn tôi đi trò chuyện dọc đường hay bà Đĩnh vợ ông Đặng, người vừa cưỡi xe máy phăm phăm trên bờ đê gập ghềnh, khúc khuỷu. Tôi cứ ngồi ngây ra hồi lâu, mãi khi nghe tiếng ông Đặng nói, không biết với bà vợ hay với tôi:

-Để lợn chết tự nhiên nhiều thì còn lấy đâu ra lãi nữa.

Bấy giờ tôi mới quay sang ông Đặng hỏi:

-Như nhà bác, chăn nuôi bảo đảm kỹ thuật thế mỗi năm có thể lãi bao nhiêu?

Ông Đặng ngồi nhẩm tính hồi lâu vẫn chưa đưa ra được con số nào, bà vợ liền bảo:

-Cứ tính một tháng là ra cả năm chứ có gì mà nhẩm mãi. Toàn bộ con giống, thức ăn, thuốc phòng đều của công ty người ta cấp, còn mình lấy công làm lãi, mỗi ki-lô-gam lợn tăng trọng được hai nghìn năm trăm đồng, hơn bù kém bình quân một tạ lợn xuất chuồng là được hai trăm bốn mươi nghìn đồng, hôm trước ông mới tính xong đâu đấy, cứ thế mà nhân lên.

Rồi cũng không chờ ông “cứ thế mà nhân”, bà nói vanh vách từng con số, công chăn nuôi, mỗi dẫy chuồng mượn hai người, hai dẫy bốn người, lương mỗi tháng một người hai triệu rưỡi, tất cả hết mười triệu một tháng. Điện tính theo giá nông nghiệp một nghìn không trăm hai mươi ba đồng một số, mỗi tháng phải mất khoảng năm triệu tiền điện và năm triệu tiền dầu chạy máy phát những khi mất điện, rồi còn xà phòng, găng tay, ủng chân… Thôi, chi li làm gì, cứ tính đại khái xem được bao nhiêu, hay lấy cái bản hôm trước ông tổng hợp ra đây, cộng thêm với lứa lợn mới xuất chuồng cho nhanh. Nhưng ông chồng đã ngẩng lên bảo:

- Xong rồi đây, từ đầu năm đến nay xuất chuồng được hai lứa, lứa trước một trăm năm mươi tư triệu, lứa vừa rồi một trăm ba mươi bảy triệu, gộp cả là hai trăm chín mươi mốt triệu. Trừ lương lao động và chi phí các khoản còn thực thu một trăm năm mươi triệu.

Vừa nghe đến tôi đấy buột kêu lên, một gia đình nông dân tiếng là có năm người, nhưng thực chỉ còn hai ông bà ở nhà, còn cô gái lớn làm ở một siêu thị trong nội thành, cậu con trai học trường dạy nghề xong đã đi làm thợ hàn, cậu út đang học Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, mỗi tháng chi gọn một triệu hai, chỉ còn hai ông bà ở nhà một năm chăn nuôi thu về trăm năm mươi triệu đồng, thử hỏi, cách đây mươi năm nói ra liệu có ai tin./.

-------------

Trại Sáng tác Vĩnh Bảo 2010




 
Bàn tay vàng

 

Tặng nghệ nhân Hoàng Sầm

Tìm ra hậu duệ Trạng Trình

Thanh tao đường nét dáng hình người xưa

Tám năm phò một triều vua

Cuộc cờ xe tốt thắng thua cũng tàn

Ngẫm dòng thế sự nghiệt oan

Sớ dâng chẳng toại, từ quan trở về

Bóng lồng lộng gió bờ đê

Tuyết giang phu tử chốn quê hữu tình

Bàn tay anh tạc Trạng Trình

Cả tâm, cả huyết, cả tình đam mê

Vườn thơm hoa bưởi hương chè

Hoa xoan sóng đớp cá mè ao anh

Làng nghề rộn rã âm thanh

Anh ngồi tạc tượng, vẽ tranh sơn mài

Tạc hình ai, tạc tượng ai!

Cái tâm có sáng cái tài sẽ nên

Vĩ nhân chung một đạo hiền

Trán cao khuôn mặt chữ điền suy tư

Tướng tài tuấn tú khôi ngô

Hiền tài nguyên khí chung kho tượng vàng

Những vòng nguyệt quế hào quang

Thân rùa cũng biết đội nhang lên chùa

Phỗng cười bán nguyệt trăng đưa

Tướng bà đeo kiếm thanh thư nét giòn

Tượng tranh ước lệ có hồn

Tay vàng gửi tấc lòng son thế tình

Quốc công tượng gỗ Trạng Trình

Việt Nam sáng mãi dáng hình vĩ nhân

 

Trại sáng tác Vĩnh Bảo 2010

 

Xuân Đường



 
«Bắt đầuLùi4142434445464748Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

 

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)