Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 21 khách Trực tuyến
Văn học
Đà Nẵng trong ai?

 

Tùy bút: NSND Đào Trọng Khánh

Ngày tôi còn bé, bố tôi bán hết ruộng, vườn ở quê nhà, ông bảo mọi người: “Tôi đi Tourane” (tên cũ của Đà Nẵng). Rồi bố tôi không về.

Tôi có thời gian làm phim tài liệu, lần đầu tiên vào Đà Nẵng. Trên đỉnh đèo Hải Vân, thắp hương cho những ngôi mộ ở ven đường, không biết là ai, nhìn xuống biển, chỉ thấy mênh mông sóng bạc đầu. Qua Vũng Rô nước trong xanh. Đáy biển có một xác tàu không số. Nhớ thơ hoài cảm của cụ Trần Quý Cáp (1870 - 1908), ngang qua Đà Nẵng khi đi thi Hội ở Huế về: An năng tái khởi Trần Hưng Đạo. Lập lại Đằng Giang vĩ đại công (ước chi nay có Trần Hưng Đạo / Lập lại Đằng Giang trận thứ hai). Thơ cụ Cử Cáp mà nghe như mong muốn gần một trăm năm sau của các nhà thơ thời chống Mỹ viết về tàu không số của Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Xe xuôi đèo Hải Vân ngoằn nghèo đổ về thành phố Đà Nẵng. Xa xa bán đảo Sơn Trà và bãi biển Non Nước mịt mù khói sóng.

Đà Nẵng là thành phố hiện đại dựng trên một nền đất cổ gắn với văn hóa Sa Huỳnh cách đây 3.000 năm. Qua nghĩa trang đồ sộ ở đầu thành phố, tôi lại nhớ những mộ chum cổ ở Sa Huỳnh . Bật cười, nhớ nhà thơ Thanh Thảo, có lần bảo tôi: Mình cũng ở mộ chum mà ra!Nhưng cư dân ban đầu của Đà Nẵng có lẽ là người Chăm một thời phát triển rực rỡ. Bao nhiêu cung điện đền đài, thành quách uy nghi, tráng lệ từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ 13 nay vẫn còn dấu tích và nhiều hiện vật còn trưng bày tại Bảo tàng Chăm Đà Nẵng, một căn nhà xây theo kiểu Tháp Chàm từ năm 1915.

Tôi mê mẩn trước 300 tuyệt tác nguyên bản được trưng bày. Bảo tàng Chăm Đà Nẵng đã khắc họa một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng của những quốc gia Chăm Pa trong đó có thời kỳ cực thịnh sáng chói nhất. Có một bệ thờ bằng đá mà đến giờ tôi vẫn bâng khuâng. Bệ thờ Chăm những đôi vú của vũ nữ Chăm thời xưa, đã lên nước bóng loáng vì bàn tay những du khách ve vuốt động vào để cầu may. Sự ngưỡng mộ trước Cái Đẹp đã trở thành linh thiêng!

Trong tiến trình lịch sử, thành phố Đà Nẵng được tạo lập trên con đường phát triển của nhiều thế hệ người Việt cho đến bây giờ. Tôi vào Đà Nẵng vào mùa lễ hội khoảng giữa tháng 2 âm lịch. Chùa Quán Thế Âm nằm dưới chân ngọn núi Kim Sơn thuộc dãy Ngũ Hành Sơn. Đức Phật Quán Thế Âm được truyền tụng là nghe thấy tất cả những nỗi đau khổ của con người, cứu giúp tất cả những người nghèo đói. Chúng tôi hòa vào với lễ hội để ghi hình. Trong hương khói mờ ảo của chùa, bà con làm lễ rước ánh Sáng, năng lượng vũ trụ tuyệt đối thiêng liêng. Tôi vào động Tàng Chơn nằm phía sau chùa Linh ứng thuộc ngọn Thủy Sơn. Cửa hang Thiên Long Cốc có đường thông lên trời một luồng ánh sáng tuyệt vời, tôi không thể nào diễn tả nổi. Trải qua hàng nghìn năm nay, từ thủa khai thiên lập địa đến nay, động Tàng Chơn, được coi là động cứu giữ mọi chân lý của vũ trụ, luồng sáng kỳ ảo ấy dường như không thay đổi. Nó đến với mọi vật mãi mãi đến bây giờ.

Vào khoảng trung tuần tháng 3 âm lịch, bạn tôi ở Đà Nẵng rủ tôi đi quay phim lễ hội Cá Ông ở Làng Chài. ở đây có miếu thờ một bộ xương Cá Ông (còn gọi là Cá Voi) rất to bị bão đánh dạt vào bờ biển của làng. Lễ hội Cá Ông ngày xưa là lễ hội lớn nhất của cư dân Đà Nẵng, sự tôn kính bậc thần linh gắn liền với sự hưng thịnh của cả làng. Nhà nhà đều bầy hương án ngoài sân để làm lễ cầu an. Ông từ vừa thắp hương cúng tế trong miếu thờ bộ xương Cá Ông vừa bảo tôi: “Tương truyền Cá Ông như có thần linh mách bảo, nhiều lần dìu ghe thuyền của ngư dân bị bão đánh dập ngoài khơi về đến bãi cá đầu làng. Dân làng tôi đời này sang đời khác thờ Cá Ông vì Cá Ông sinh ra đã cứu người chúng tôi thoát chết!”.

Sáng sớm hôm sau, dân làng làm lễ rước trên biển, nhộn nhịp những bộ quần áo tế lễ xanh đỏ rực rỡ. Dàn nhạc cổ rúc tù và, thổi kèn inh ỏi. Mặt trời mọc, một luồng ánh sáng kỳ ảo lan dần, tỏa sáng các tàu thuyền treo cờ sặc sỡ kéo về trên bến để tham gia lễ hội. Tôi nghe thấy tiếng trống ì âm vọng ra từ miếu thờ, hay từ lòng biển, tôi không biết nữa. Có lẽ là tiếng thì thầm của Cá Ông. Đà Nẵng trong tôi - một người làm phim tài liệu, âm thanh và ánh sáng là như thế đấy!.

Tôi vào Bảo tàng Chăm Đà Nẵng, nhiều lần đứng ngơ ngẩn trước tượng thần Siva, tưởng tượng ra nhịp điệu vũ trụ mà tôi chưa biết. Trần Kỳ Phương ở Bảo tàng Chăm bảo tôi: “ông phải đi Trà Kiệu, Thánh địa Mỹ Sơn, Kinh thành Sư Tử, Simhapura ngày xưa, chỉ cách Đà Nẵng có hơn 60 cây số, nay đã thành hoang phế. Có bà già đi cắt cỏ đã nhặt được vàng....”.

Hồi còn trẻ, thú thực tôi cũng mê tìm vàng. Tôi đến Mỹ Sơn lần đầu tiên vào một buổi chiều, đứng trên gò cao, quay một toàn cảnh. Thung lũng hoang vắng, nhấp nhô tháp cổ, sương nhiều mờ nhạt, cảm giác hơi rờn rợn. Tôi đi loanh quanh, không thấy vàng đâu. Đốt ngọn nến vào bàn thờ thần Siva thấy trống không lạnh lẽo. Những năm sau tôi lại vào Đà Nẵng, như người nhập đồng, tôi đi dọc khu V quay phim tất cả những tháp Chàm làm tư liệu. Tôi chẳng tìm thấy vàng bạc gì, nhưng ghi lại được những phế tích tuyệt đẹp. Sau này tôi đem dựng thành bộ phim “Vũ nữ Trà Kiệu”, được Giải thưởng Nhà nước.

Về già tôi nhớ lại những năm 60 ở Hà Nội tôi hay vào chùa Quán Sứ nghe cụ Pháp sư, Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám giảng Kinh. Nghe đâu cụ người Điện Bàn (Quảng Nam - Đà Nẵng), cụ là người Phật học uyên thâm và đầy nhiệt tình mà tôi rất kính trọng. Có lần cụ bảo: “ Gia trung hữu bảo hưu tầm mích. Vàng ở ngay trong nhà anh đấy, việc gì phải tìm” . Bạn tôi là nhà văn Thái Bá Lợi sống ở Đà Nẵng, theo sư thầy dịch bộ Kinh Bát Nhã Ba La mật dầy hơn 600 cuốn, ra Hà Nội, bảo tôi mua lấy một bộ. Tôi thấy bộ kinh dầy quá không dám mua. Anh bảo tôi: “Ông cứ mua, để nhà ở, thỉnh thoảng dở ra đọc trang nào cũng được. Nó là báu vật ở trong nhà ông đấy!”. Tôi không nghe anh, ân hận mãi đến tận bây giờ!.

Tôi lại có dịp vào Đà Nẵng làm bộ phim tư liệu “Khu Năm với Bác Hồ”, tướng Phan Hoan - tư lệnh Khu Năm bảo tôi : “Anh nên đến thăm anh Nguyễn Đôn, anh ấy dạo này đang bệnh!”. Tôi đến thăm Tướng Nguyễn Đôn ở một phố nhỏ Đà Nẵng, nghe anh kể biết bao nhiêu chuyện thời kháng chiến, viết gần xong kịch bản của cả bộ phim.

Bây giờ tôi mới hiểu: Hoá ra Vàng của Đà Nẵng ở trong mình thật mà mình không biết, mà ngày xưa cứ vơ vẩn đi tìm ở những chân tháp cổ. Những người Đà Nẵng mà tôi đã gặp mãi mãi là Vàng trong tôi, nó làm cho Đà Nẵng rực rỡ từng ngày. Tiếc thay, đến bây giờ tôi không còn đủ sức để vào thăm Đà Nẵng nữa.

Nếu luân hồi có kiếp sau, tôi sẽ bắt chước bố tôi bán hết ruộng vườn ở quê nhà, bảo với mọi người “ Tôi đi Tourane!”. Và có lẽ tôi sẽ ở lại Đà Nẵng, không về nữa!..

 
Bác Hồ với thiếu nhi

Phan Thành Minh

(Lâm Đồng)

 

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”

Tiếng hát vang lên từ trái tim Ba Đình

Tiếng hát vang lên từ trái tim Tổ quốc


Cháu yêu Bác trọn đời vì dân vì nước

Cháu yêu Bác vì miền Nam, nhiều đêm không ngủ được

Thư chúc Tết thiếu nhi Bác gửi tới mọi miền


Cây kẹo từ tay Người có vị ngọt ngào riêng

Bài ca “Kết đoàn” có Người, luôn hồ hởi

Nghe Bác vào thăm cả miền Nam chờ đợi

 

Cả nước hướng về Hồ Chí Minh

Cả nước hướng về Hà Nội

Cả nước chung một niềm tin


Bất khuất kiên cường anh dũng đấu tranh

Độc lập tự do sáng ngời chân lý

Sức mạnh toàn dân đã nên thành nên lũy


“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”

Tiếng hát vang lên từ trái tim Lạc Hồng.

 
Tiếng gà gáy tinh mơ

Ngày trước, ở quê tôi hầu như chỗ nào cũng nuôi gà. Bất cứ nơi đâu cũng thấy bóng dáng của đàn gà xuất hiện. Buổi sáng, chúng nhốn nháo trong sân, bờ ao để tìm bữa điểm tâm ngon miệng. Ban trưa chúng quanh quẩn sau cháy bếp để chờ chủ nhân rải thóc, cơm khô. Rồi đàn gà bay lên cành cây, mái nhà, chuồng lợn để rỉa lông, nghỉ trưa. Chiều, chúng dắt díu nhau ra những cánh đồng vừa gặt xong để mót lúa sót. Rồi khi ánh hoàng hôn pha màu tím nhạt, từng chú gà trống, cô gà mái và những nhóc gà con lũ lượt kéo nhau về chuồng. Gà ngủ rất sớm nên buổi tối chúng không ồn ào như ban ngày. Tuy nhiên, cũng do nghỉ ngơi quá sớm nên cứ tầm 3 - 4 giờ sáng là chúng thức dậy, réo vang trời. Nhất là lũ gà trống, chúng gáy inh ỏi, báo thức vang dậy cả một vùng.

Thú thật, hồi đó tôi rất ghét lũ gà trống. Cứ lúc tôi đang rúc vào chăn ấm chìm vào những cơn mơ thì chúng lại gáy “ó o o” khiến cho tôi đôi lần giật mình thức giấc, bỏ dở giấc ngủ ngon. Nhưng rồi sau đó tôi lại quý trọng chiếc đồng hồ sinh học này. Đó là lúc tôi vào lớp 10, phải ra trường huyện học xa tít mù chừng 5 cây số, qua một lần đò. Thời đó công nghệ chưa phát triển, chẳng có điện thoại di động, cũng không có đồng hồ báo thức như bây giờ. Nhà tôi nghèo, có chiếc đồng hồ treo tường đã may mắn lắm rồi chứ nào có đồng hồ quả lắc báo giờ như những nhà khá giả. Việc đến lớp sớm hay muộn đều trông chờ vào chiếc đồng hồ Gimiko. Nhưng khổ nỗi, tôi lại hay ngủ nướng nên không thể nào canh giờ theo thói quen. Tội cho ba mẹ, những ngày đầu tôi ra trường huyện, ba mẹ phải thức giữa khuya canh chừng gọi tôi dậy, sợ tôi đến lớp muộn. Có những hôm dù đã dậy 5 giờ sáng nhưng khi đến trường lại bị bác bảo vệ càm ràm vì đến muộn 10 phút. Chuyến đò sáng thì đông nghẹt người, nào là đi chợ, đi học, đi làm kể cả đi chơi. Nếu đến sau, buộc phải ngồi đợi dưới gốc đa chuyến đò về.

Nhưng rồi có lần giật mình giữa khuya do gặp cơn ác mộng, tiếng gà trống gáy vang trong chuồng làm tôi lưu tâm. à, hóa ra chúng gáy khi những tia sáng yếu ớt đang dần hiện diện trong buổi tinh mơ. Chao ôi, thế mà bấy lâu nay tôi cứ căm ghét chiếc đồng hồ báo thức di động này. Thế là từ đó, tôi luôn đến trường đúng giờ, trong tâm trạng thoải mái. Tiếng gà gáy vào buổi tinh mơ không làm tôi khó chịu, phải dùng chiếc gối ôm bịt tai mình lại như trước, mà nhẹ nhàng mở đôi mắt ra và bật ngồi dậy theo phản xạ có điều kiện. Có những đêm học bài khuya, mệt lả, gà gáy lần đầu nhưng tôi vẫn ngủ ngon. Mải đến khi mẹ gọi: “Gà gáy sáng rồi, dậy đi, chuẩn bị sách vở đến trường kìa con”, lúc đó tôi mới bừng tỉnh.

Tôi thích nhất là những ngày cuối tuần. Dù buổi tinh mơ tôi không đến trường nhưng nghe gà gáy là tôi thức giấc (thức nhưng sáng lại ngủ nữa). Không vội dậy, chỉ nằm lặng im, nghe tiếng gà gáy và cảm nhận… Tôi nhận ra, loài gia cầm này không đơn thuần gáy bừa loạn xạ. Ngoài việc báo giờ khá chính xác, chúng còn gu thẩm mỹ âm nhạc rất thú vị. Những thanh âm “ò, ó, o, o...” cứ lặp đi lặp lại đều đều nhưng theo suy nghĩ của riêng tôi, dường như đó là một bản giao hưởng tuyệt vời. Những cung bậc cao, thấp, trầm nhảy múa như con sóng lăn tăn ngoài sông lớn. Chao ôi, nghe mà như đang đang tham dự một buổi hòa nhạc thính phòng. Từng chú gà trống lần lượt góp tiếng gáy, tiếp nối bản nhạc cho đến sáng mới thôi. Thú vị nhất là những con gà trống choai, mới trổ mã, tập tành gáy le te cũng như tôi, cậu trai tơ đang tuổi dậy thì giọng ồm ồm nghe chói tai quá. Vậy mà vui, thú vị. Gáy xong chúng đập cánh phành phạch như khẳng định sức mạnh cùng giọng hót opera vút cao của mình. Đã thế, ở mỗi loài, gà tre, gà tàu, gà nòi, gà ác… đều có tiếng gáy khác nhau. Có con giọng trầm trầm, nhưng cũng không ít chú lại có giọng mượt, ngọt, trong trẻo…

Tiếng gà gáy đi suốt thời trung học phổ thông của tôi. Nhờ có chúng, nhắc cho tôi nhớ về một thời gian khó, tự trui rèn bản thân mình vào khuôn phép, sống có kỷ luật, nguyên tắc. Nhưng những năm sau đó, khu công nghiệp về làng, đồng ruộng thu hẹp dần rồi mất hẳn. Chỉ còn sót lại vài mảnh đất trống bỏ hoang nằm trong diện quy hoạch. Bán được đất, kinh tế bà con cũng phất lên. Những triệu phú xuất hiện cùng những ngôi nhà cao tầng đủ màu đủ kiểu. Ngôi nhà gỗ của gia đình tôi nằm lọt thỏm trong một rừng biệt thự. Tiếng gà gáy vì thế trở nên chói tai đối với hàng xóm, buộc mẹ phải bán đi để khỏi bị phiền. Từ đấy xóm tôi mất hẳn tiếng gà gáy sáng. Có những buổi tinh mơ thức dậy, rúc mình trong chăn, chợt thèm nghe những chú nhạc công gáy “ò ó o o” quá đi thôi!

Tản văn: Nguyễn Hoàng Duy (TP Hồ Chí Minh)

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)