Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 89 khách Trực tuyến
Ông tổng Thợi

Truyện ngắn: Vũ Hoàng Lâm

Tên thật của ông Chánh tổng người làng Bợi là Thiện. Tính ông hay bông đùa nên dân hàng tổng ghép chữ đầu tên ông TH với vần cuối ợI của tên làng Bợi thành tên THợI. Ông có tài  bình phẩm các việc xảy ra bằng ca dao, thành ngữ. Để an ủi những  hoàn cảnh éo le, ông nói: “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”. Thấy người hàng xóm, vợ chết chưa được trăm ngày đã cưới cô vợ bé, ông chép miệng: “Vô tình nào có ai ngờ, cạn sông mới biết rằng lờ hay hom”(*). Thấy nơi nơi, các ông chánh, phó tổng, các ông lý trưởng trong làng, năm thiếp bảy thê, mà ông tổng Thợi chỉ một bà cả, họ hỏi ông vì cớ gì mà ông cam chịu cảnh “cơm nhà, đít vợ”, (để miêu tả những anh chàng “đụt” chỉ biết có mỗi “cái” của vợ)  ông mỉm cười rồi đọc cho mọi người nghe: “Giang hồ mới trải mùi đời, có ăn gỏi cá, mới biết nhiều mùi rau thơm”. Người nghe phá lên cười, hiểu rằng ông quen thói “đi ngang về tắt”. Ông thường nói:  “Vườn rộng không trồng tre đằng ngà/ Nhà rộng không chứa khách đường xa”. Nhưng ai cơ nhỡ đến nhà xin tá túc vài ngày, ông đều dặn gia nhân đón tiếp chu đáo. Dân làng mến phục ông về cách xử sự đó. Nhiều người nghĩ rằng ông hay chữ, có việc gì “ đại sự” trong nhà, họ đến xin chữ ông. Một ông thợ mộc làm xong nhà, xin ông bức đại tự, chẳng hiểu học ở đâu, ông cho bốn chữ: “Cao cư lư xa” ( có nhà cao, có xe đi) nhưng đọc lên lại có âm hưởng “kéo cưa lừa xẻ”. Một gia đình làm lễ thượng thọ cho cụ ông 90 tuổi, đến xin ông đôi câu đối. Ông học ở đâu không biết, viết mừng gia đình: “ Phúc sinh phú quý gia đường thịnh / Lộc tiến vinh hoa tử tôn vinh.”

Vậy mà trong đời, ông có một lần ôm hận vì cái tính bông đùa đó. Và ông cũng đã chết vì tính bông đùa đó.

Một đêm ba mươi Tết, ông gọi gia nhân căn dặn:

- Đêm nay là đêm trừ tịch, trộm sẽ vào nhà ta. Trộm này là trộm quen, vì đàn chó nhà ta thì phi người quen không ai vào nổi. Trộm sẽ vào cổng chính. Hãy bắt vào đây, ta sẽ dạy cho nó bài học.

Quả nhiên, giữa đêm đen như mực, gia nhân tóm gọn tên trộm dẫn vào cho ông chủ. Tổng Thợi nghiêm sắc mặt:

- Tội này, đánh chết, vứt ra bờ sông là phi tang.

- Lạy ông!

- Còn muốn kêu oan gì thì nói.

- Lạy ông! Ba mươi Tết rồi, bốn bố con không còn hạt gạo trong nhà. Biết ông là người nhân đức, con đến  trộm ít gạo.

Tổng Thợi cười cười (Ông nhớ đến một hoàn cảnh… ông nghe ở đâu đó):

- Anh định xin ta bao nhiêu gạo ?

- Con định xin ông một thúng.

Ông lập tức quyết định, cả gia nhân lẫn tên trộm sửng sốt:

- Lấy ra đây một thúng gạo và năm chục vuông vải.

Giọng ông oai nghiêm như khi ông quất ba toong vào những tên bị ông bắt:

- Ta cho anh thúng gạo, và năm chục vuông vải. Nhưng để nhắc anh nhớ từ nay về sau đừng ăn xin kiểu nhơ nhuốc đó, ta bảo gia nhân quấn vải quanh người anh, quấn đến đâu, đổ gạo vào đến đó.

Quấn vải, đổ gạo vừa được một thúng và vừa đủ năm mươi vuông vải, ông bảo gia nhân dẫn tên trộm qua cổng chính. Anh ta đi thật khó khăn, nhưng gượng từng bước, hy vọng đến giao thừa thì cố “lết” về đến nhà.

Trong đêm tối, không ai nhận ra anh. Và anh cũng gắng gượng từng bước, chậm từng bước trong niềm vui mà về. Sự tình xảy ra thật thương tâm. Khi về đến nhà, con chó chạy ra , lúc đầu sủa ầm ĩ, nhưng sau nó nhận ra chủ, nó nhẩy chồm lên người anh. Các con anh chạy ra, thấy một cái đống gì to lừng lững, tưởng đó là ma. Con chó chồm lên, lúc đầu anh còn cố sức, nhưng sau ngã vật xuống đường. Thằng con trai lấy gậy đập tới tấp vào cái đống to lù lù như ma ấy. Gạo vung vãi tung toé, trắng xoá cả mặt đường. Khi các con đốt đuốc để xem sự tình, thì bố đã chết. Tiếng khóc vang trong đêm ba mươi Tết vang càng xa. Tổng Thợi cho gia nhân đi xem, về kể lại, tổng Thợi nằm suốt đêm không ngủ. Sáng hôm sau, tổng Thợi cho gánh một gánh gạo để các con làm ma cho bố. Người làng hiểu sự tình, trách tổng Thợi thì họ cũng chẳng trách, giận tổng Thợi thì họ cũng chẳng giận. Chỉ có ông từ coi đền bình phẩm “Cái thiện và cái ác cách nhau có một nén nhang mà thôi”.

Chuyện đó dân làng sớm quên, vì một chuyện tày trời sau đây.

Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Chúng ra lệnh phá lúa trồng đay. Các nơi đều phải thực hiện lệnh đó. Riêng tổng Thợi không thực hiện. Ba viên sĩ quan Nhật về tổng để trực tiếp ra lệnh phá ruộng lúa , trồng đay. Tổng Thợi mặc áo quan hàng tổng, cưỡi ngựa ra đầu làng nghênh tiếp, dẫn mười trai làng mang giáo  hùng dũng theo sau. Tổng Thợi dặn nếu quân Nhật chém ông thì tất cả xông vào đâm chết chúng nó. Ông bút đàm với người Nhật.

Sĩ quan Nhật hỏi:

- Vì sao dân làng chưa phá lúa trồng đay ?

- Thưa quý quan, dân chúng tôi xin quý quan cho chậm lại một thời gian.

- Một thời gian là bao lâu ?

- Thưa quý quan, dân tổng tôi đang đói, chỉ trông chờ ngày gặt lúa. Cho chúng tôi hai tháng nữa.

- A tên này dám chống lệnh !

- Thưa quý quan, lúa đang vào hạt, chúng tôi phá đi là chúng tôi có tội với trời. Tôi ra lệnh phá lúa là tôi có tội với dân làng.

Một viên quan  Nhật rút gươm khỏi vỏ. Tổng Thợi vẫn điềm tĩnh:

- Nếu quý quan là tôi, và những người dân này là người Nhật, quý quan có bảo họ phá lúa đi không? Chẳng thà tôi chết vì lưỡi gươm của quý quan, tôi còn ngẩng mặt nhìn dân tổng tôi dưới suối vàng.

Những viên sĩ quan Nhật nhìn mặt  trai làng tay nắm chắc ngọn giáo như đang sẵn sàng xông lên vì chủ, tên sĩ quan tra gươm vào vỏ, quay ngựa cùng rút.

Dân tổng không phải phá lúa. Người ta quên tất cả chuyện đùa cợt, hách dịch của ông. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được dân làng bầu làm Chủ tịch ủy ban kháng chiến của xã.

Năm 1947, gia đình bố mẹ tôi ở thị xã Ninh Bình tìm nơi tản cư. Người ta bảo gia đình đông người, bố mẹ tôi và sáu người con, họ giới thiệu đến ở nhờ ông tổng Thợi một thời gian. Tôi biết ông từ ngày ấy và còn nhớ ông cho đến ngày hôm nay. Dãy nhà ngang khá  dài. Gian chính giữa là văn phòng ủy ban. Ông cho bố mẹ tôi ở gian đầu. Hàng ngày bố mẹ tôi đi chợ bán thuốc. Chúng tôi ở yên trong nhà. Khách ra vào nhà ông Chủ tịch rất đông..

Một hôm, tôi nghe qua bức tường ngăn. Dáng chừng là người từ trên huyện về.

- Ông Thiện này (sau ngày cách mạng, dân làng không gọi ông là tổng Thợi nữa), có mười bảy lá đơn kiện ông, hôm nay tôi về đây chỉ xét một lá này thôi.

Chủ tịch Thiện nghiêm giọng:

- Ông cho mấy anh lính này về bắt tôi à? Ông bảo họ ra khỏi nhà tôi ngay. Ông Chủ tịch, tôi cũng Chủ tịch. Hôm bầu cử , đàn bà con gái “vén váy quai cồng”  chạy từ đồng về bỏ phiếu cho tôi làm Chủ tịch. Vậy mà ông đưa lính vào ủy ban định bắt tôi hả?  Mấy anh “quân sự”  biết tiếng ông rồi, lặng lẽ rút ra cổng.

- Chủ tịch huyện nói đi.

- Lá đơn này, họ kiện ông đánh người ăn tiền. Có đúng không ?

Chủ tịch Thiện mỉm cười.

- Có.

- Cụ thể ông đánh người, ông ăn tiền như thế nào?

Chủ tịch Thiện  trả lời gọn gàng:

- Thằng Xuân con nhà Cảnh, đi họp đội thiếu niên về gọi bố nó là “đồng chí Cảnh ”. Bố nó cũng là con nhà gia giáo gặp tôi, nhờ tôi dạy cho thằng Xuân một bài học. Dân chủ gì dân chủ, trên dưới trong nhà phải có tôn ti trật tự, không thể cá mè một lứa, bố là bố, con là con, không bằng vai phải lứa như thế được. Tôi gọi thằng Xuân đến, nện vào mông nó ba cái ba toong. Tất nhiên là đánh nhẹ thôi, chứ mà đánh bằng tay thước như ngày trước thì nó chết. Từ đó thiếu niên trong làng không dám dân chủ quá trớn. Đến ngày nhà nó tát ao, bố mẹ nó nhớ công tôi dạy con, mang biếu tôi một con cá. ừ thì một con cá mà con biết lễ nghĩa thì làm sao tôi từ chối. Đánh người là tôi đánh như thế, và ăn tiền là ăn như thế. Ăn cá chứ ăn làm sao được tiền.

Đoàn cán bộ huyện đành cười xòa với ông Chủ tịch xã.

Trước khi ra về, Chủ tịch huyện niềm nở:

- Xã ta phong trào du kích rất tốt. Có ông Binh Lý huấn luyện quy củ lắm. Các đoàn thể Phụ lão cứu quốc cũng mẫu mực. Dân làng chỉ phàn nàn ông Chủ tịch vẫn hách dịch như thời làm Chánh tổng. Ông thay đổi cách cư xử cho phù hợp với chính quyền dân chủ mới.

Chủ tịch xã cười xoà, giọng vẫn như đùa :

- Chính trị của tôi là cái ba toong… Cứ ba toong là đâu vào đấy. Ông cười “từ ngày làm Chủ tịch, vợ tôi chỉ trông vào cái thớt”.

Mọi người cười đứng dậy. Chủ tịch Thiện ra hiệu mời mọi người ngồi.

- Mấy chú lính, gia đình tôi đã làm ăn cơm rồi. Từ đây về huyện cũng xa. Hôm qua nhà tôi đánh được con cầy hương, thịt nó thơm lắm. ở lại đây với tôi.

Sau ngày kháng chiến thành công, chúng tôi về thăm ông tổng Thợi. Thật buồn đến nao lòng khi nghe tin ông bị Tây bắn chết.

Làng làm lễ xuất quân cho ngót trăm thanh niên lên đường. Ông Chủ tịch xã mổ lợn khao đoàn “Vệ quốc trẻ” một bữa. Bát đũa còn để ngổn ngang trong căn nhà ngày trước bố mẹ anh chị em được ông cho ở nhờ. Chẳng dè ngày hôm sau, bọn Tây kéo quân đi càn qua làng, vào nhà ông, trông thấy bát đĩa ngổn ngang, thằng chỉ huy hỏi:

- Ông vừa tiếp đón “Vẹm” phải không? (Vẹm là hai chữ Việt Minh V.M đọc tắt.)

Ông bình tĩnh trả lời :

- Gia đình tôi sắp có giỗ.

Đứa con trai của người đã từng vào nhà ông ăn cắp, vẫn còn thù ông, nay đi lính cho Pháp, nó nói với tên sĩ quan Pháp :

- Hôm qua bộ đội của làng đã tập trung ở đây. Ông Chủ tịch xã mổ lợn đãi họ trước giờ lên đường.

- Có phải thế không? Tên Pháp hỏi.

Ông Thiện điềm tĩnh trả lời :

- “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (*)

Viên thông ngôn dịch :

- Từ xưa cho đến nay, đã mấy người ra trận còn được trở về !

- Có mấy người  ra trận còn được trở về ! Cả ta cũng thế ư ?

- Vậy mà, ông Thiện đọc tiếp:  “Khả liên Vô Định hà biên cốt/ Do thị xuân khuê mộng lý nhân”(*); Ông đọc luôn lời dịch: Thương thay xương bãi sông Vô Định. Giấc mộng phòng khuê vẫn thấy người. Người ra trận chết rồi, người ở nhà còn nằm mơ thấy họ. Tôi thương họ, tôi mổ lợn khao họ một bữa. Vì biết đâu ngày mai…

Kẻ phản bội hét lên:

Tên này độc ác lắm. Hãy bắn chết nó đi !

Ông tổng Thợi của tôi đã chết trong một trận càn như thế, với cái triết lý nhân văn về chiến tranh ông đang muốn cảnh báo cho tên lính Pháp./.

V.H.L

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)