Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 120 khách Trực tuyến
Ông Quân “ồ”

Ông lão dệnh dạng đi bộ trên đường bê tông nắng rát rạt. Hai tay nắm chặt ghi đông xe đạp, xem ra cái xe chỉ là vật để ông lão dựa vào cho khỏi ngã, mỗi bước lại thấy ông nhăn mặt xuýt xoa, hình như lão bị đau chân thì phải. Người làng trông thấy lão đều cúi đầu: “Chào cụ ạ!”. Lão dừng bước giương cặp mắt đùng đục nhìn người vừa chào cố nhận ra xem là ai và chắc cũng chả nhận ra ai nên đành cất tiếng “Phải” để giả nhời. Nếu người không quen chắc sẽ mất lòng vì cái câu chào lại xem ra có vẻ trịch thượng, nhưng người làng đều biết ông lão năm nay đã hơn 90 tuổi, là bậc cao niên nhất làng nên chả ai nỡ giận.

Cứ đi độ mươi bước ông lão lại dừng lại nhìn về trước như thể ước lượng cái quãng đường mình đi tới còn bao xa. ở đấy là “thủ đô” của xã có trụ sở ủy ban xã cùng với trường học, trạm y tế.

Đi ngược chiều ông lão là một người phụ nữ sồn sồn cắp thúng. áng chừng chị ta đi chợ về. Trông thấy ông lão dệnh dạng bước, miệng chị liến láu:

- Chào cụ Quân “ồ”. Nắng nôi thế này cụ đi đâu đấy? Gớm cứ tự đày mình cho khổ. Sao không ở nhà mà nghỉ.

Ông lão dừng hẳn lại nghiêng cổ nghe rồi toác cái mồm toàn lợi hì hì cười:

- Cái Chắt đấy hử! ồ, ồ cái thằng bố nhà chị... chỉ được cái nước láo. Mày đi chợ về đấy hử cháu? Ô xời... tao... tao đến trường cấp hai một tý.

Người đối diện ngỡ ngàng:

- Cụ đến trường cấp hai làm gì? Hay là cụ bây giờ lại xin đi học. Giá ngày xưa chịu khó học thì bây giờ cán bộ trung ương nhà lầu ở tận Thủ đô xe hơi đưa rước ấy chứ...

Ông già vẫn cười cười:

- Bố nhà chị... chỉ lỡm. Học cái gì mà học. Ô xời... sắp xuống lỗ rồi - Ông lão thở dài rồi nói nhỏ - Mày còn tiền cho ông vay hai chục... mai tao giả.

- Cụ vay tiền làm gì? Nộp tiền đóng học cho đứa nào à? Con cháu tận Sài Gòn, Hà Nội, có đứa nào đi học ở đây mà phải đóng tiền.

- Ô xời... Cái con này! Lắm điều quá. Mày có cho ông vay không thì bảo. Lại còn cứ lục vấn.

*

*  *

Ông lão tên là Quân. Từ nhỏ ông mồ côi bố mẹ phải ở với chú. Nhà chú đông con nghèo rớt, bữa ăn bữa nhịn nên ông cùng đám em đều không được đi học. Cách mạng thành công, Quân vừa đến tuổi thanh niên và cũng đã “phải lòng” một người con gái cùng xóm. Đấy là bà Chuột cùng tuổi với ông.  Mỗi lần nhìn cái dáng đậm thấp cùng ánh mắt đen, miệng cười khoe hàm răng đen nhưng nhức đều như hạt na của người ấy thì ông lại thấy chân tay thừa thãi miệng lúng búng nói chẳng ra lời. Cô thôn nữ tên Chuột ngày ấy cũng nhìn ông tình tứ lắm nhưng khi bạn bè gán ghép thì Chuột ngấm nguýt “ỉa vào thằng Quân to rốn”. Chả là nhà nghèo nên chàng thanh niên Quân lúc nào cũng chỉ có cái quần đùi đụp và cởi trần. Ông Quân tức lắm về bắt vạ chú thím. Người chú lúc ấy mới nhớ ra cháu mình chẳng gì cũng đã là một thanh niên vạm vỡ... đành nhường cái áo cánh nâu đã rung rúc. Vậy là chàng Quân ngày cởi trần khoe rốn làm như trâu lăn, tối tối lại diện cái áo cánh nâu vè vè qua ngõ nhà bà Chuột rủ bà cùng đi sinh hoạt đoàn thể, cùng căng lồng ngực hát “Bao chiến sĩ anh hùng- Lạnh lùng vung gươm ra sa trường...”. Khí thế cách mạng hừng hực trong làng ngoài xã. Như mọi trai tráng khác, ông hăng hái đi bộ đội kháng chiến. Đánh xong trận Điện Biên Phủ thì ông phục viên về làng với một cái ống nứa to bằng cổ tay để trong ba lô thòi cả ra ngoài hàng gang. Mọi người hỏi cái gì trong ống nứa, ông lắc đầu không nói rồi đem gác cái thứ bảo bối bí mật ấy tận trên nóc nhà của chú thím. Vậy là mọi người chịu dù rằng ai cũng tò mò không hiểu nó là cái gì mà quý đến vậy.

Chú ông hỏi tại sao lại về phục viên thì ông bảo là do cái tội không biết chữ nó khổ thế đấy! Thì đánh nhau liên miên hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, tranh thủ giữa hai chiến dịch đồng đội cũng dạy chữ cho nhưng ông học không vào. Bạn bè đồng đội đành chịu. Mặc cảm vì việc không biết chữ nên ông nằng nặc xin về quê làm ruộng mặc dù lúc ấy có chủ trương chuyển bộ đội sang làm công nhân Nông trường.

Người ta không biết còn một lý do nữa mà ông Quân dứt khoát xin phục viên. Đó là vì ông nhớ bà Chuột. Khi mới nhập ngũ ông đã nhờ đồng đội viết hộ một lá thư gửi cho bà. Gửi thư đi rồi ông thấp thỏm đợi, ngày nào cũng ngóng. Tuyệt nhiên chẳng có hồi âm. Thì ra thư ông về đến đúng nơi cần gửi nhưng phải cất đi vì bà cũng không biết chữ! Kể ra nhờ người đọc cho nghe cũng được nhưng bà lại ngại. Ngại hàng xóm đồn đại, ngại mang tiếng “phải lòng” giai. Dù ngày xưa chê ông là “thằng Quân to rốn” nhưng trong suốt hơn 8 năm ông đi kháng chiến bà vẫn đợi ông bởi lúc nào bà cũng nghĩ tới lá thư như một lời cầu hôn, bà đã nhận thư tức là đã đồng ý. Vậy thì dù bao lâu bà vẫn đợi.


Ông về được ít hôm thì cưới bà Chuột. Và cũng đúng thời kỳ bắt đầu phong trào vận động vào Hợp tác xã. Hai ông bà xung phong ngay không đắn đo. Dạo ấy mới vào Hợp tác xã, sáng ra kẻng đánh beng beng, đội trưởng sản xuất phải đến từng nhà gào gáy giục mọi người đi làm, tối nào cũng kẻng beng beng báo đi họp để nghe quán triệt nhiệm vụ mọi người phải tích cực sản xuất tiến nhanh tiến mạnh lên Chủ nghĩa xã hội.

Nhưng mà ngày ấy đói rạc… Từ đấy ông Quân hay thở dài... Rồi ông nói câu nào cũng kèm thêm “Ô xời”. Âm “ô” liền với âm “xời” nghe như tiếng ồ nên mọi người gọi ông là Quân “ồ”.

Một lần ông Chủ nhiệm HTX đang hùng hồn thuyết giảng mươi năm nữa tương lai sáng chói lên Chủ nghĩa xã hội thì của cải như nước, mọi người sẽ được ở nhà của nhà nước xây cho, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu…Bà con há hốc mồm nghe rớt cả dãi mồm dãi mũi…Chợt nghe thấy tiếng: Ô xời…

Ông Chủ nhiệm cáu lắm. Hỏi lão Quân “ồ”: Ô xời cái gì? Không tin Đảng tin Chính phủ à?

Lão Quân “ồ” không nói gì. Mà làm sao dám nói, vì ngày ấy ai gặp nhau nói chuyện bao giờ cũng phải kèm thêm câu mở đầu “ơn Đảng ơn Chính phủ”. Ví như ông A hỏi ông B: “ông được mấy con” thì ông B bảo là “ơn Đảng ơn Chính phủ tôi được tám đứa”. Mấy con giai? “Ơn Đảng ơn Chính phủ toàn con gái…” Vậy kinh tế có khá không? Trả lời: “ơn Đảng ơn Chính phủ túng lắm, đói lắm…”.

Lại kể tiếp, ông chủ nhiệm tiếp tục phê phán xã viên lười biếng không tự giác hăng say lao động, không có ý thức hợp tác xã là nhà xã viên là chủ…

Ô xời… lần nay thì lão Quân “ồ” ngồi tại chỗ nói vóng lên: “Việc đếch gì phải hợp tác xã, cứ chia mẹ ruộng ra cho mỗi nhà rồi Nhà nước muốn thu bằng nào thì thu, đỡ phải rắc rối…”

Ông chủ nhiệm lập tức hô: “Thằng phản động! Trói nó lại. Các đồng chí đâu, lập biên bản bắt quả tang tên phản động đang tuyên truyền phá hoại hợp tác xã, chống lại chế độ.”

Vậy là lão Quân “ồ” bị lập biên bản, bị gán cho chức danh phản động. Mấy chục người có mặt cũng điểm chỉ xác nhận. Lão bị giam ở nhà kho một đêm rồi bị giải lên huyện. Bà Chuột tay cầm cái ống nứa lẽo đẽo theo sau vừa đi vừa khóc...

Lên đến huyện thì ông chỉ bị cảnh cáo rồi được về ngay. Cũng là do tối hôm trước ông bảo với bà về bắc thang lấy cái ống nứa trên nóc nhà xuống. Khi ông cán bộ huyện hỏi ai xui giục làm phản động thì ông bảo tôi không phản động, tôi lúc nào cũng theo Đảng theo Chính phủ. Lúc đánh nhau chống thực dân đế quốc sài lang thì tôi sẵn lòng chết thì chết. Về quê tôi lại hăng hái tham gia Hợp tác xã. Tôi nghĩ thế nào thì nói vậy chứ tôi không làm phản động! Rồi ông bảo bà đưa cái ống nứa lấy ra hai cái bằng khen có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và một cái chứng nhận Thương binh. Cũng nhờ hai cái thứ giấy đó mà ông được tự do.

Từ đấy trở đi ông Quân “ồ” lặng lẽ làm ăn nuôi con. Ngoài việc cày bừa theo công điểm ông còn tận dụng tất cả bờ mương, làn sông, làn ao, mép đường để cấy khoai nước, trồng rau, gieo đậu. Năm người con của ông ngoài nhiệm vụ phải học giỏi còn được phân công mỗi đứa một việc. Anh con trai cả ngoài giờ học thì rong ruổi đôi quang thúng lót lá chóc với hai cái mảnh xương bả vai trâu đi “lấy phân trâu làm giầu hợp tác”. Chị thứ hai thứ ba nhiệm vụ làm cỏ khoai, cỏ đậu... ông trồng nhiều khoai đậu đến mức hai người phải làm cả năm không hết việc. Anh thứ tư chịu trách nhiệm vớt bèo nấu cám nuôi hai con lợn. Cô con út từ khi mới đầy tám tuổi đã phải lụi cụi tất bật thổi cơm nấu nước ngày hai bữa. Anh con trai cả còn được thưởng huy hiệu vì thành tích xuất sắc theo nhiệm vụ ông bố phân công, mỗi vụ được hai mét khối phân trâu. Được thưởng nhưng không được nhận bởi vì ông Chủ nhiệm ngày xưa đã lên làm Chủ tịch xã bảo rằng không thể thưởng cho con một kẻ đã từng có hành vi phát ngôn phản động phá hoại Hợp tác xã. Nghe vậy ông Quân “ồ” ô xời một tiếng bảo cũng phải, hay ho gì cái việc hót cứt mà khen với thưởng.

Chăm chỉ làm ăn quanh năm suốt tháng, chi tiêu sẻn nhặt đến từng đồng xu... Chưa đầy mười năm sau... vào những năm sáu mươi nhà ông đã giầu nhất xóm. Năm người con lần lượt đều học hết phổ thông không bị đúp năm nào. Ba chị con gái đi học sư phạm làm giáo viên. Hai anh con trai đi bộ đội vào Nam chiến đấu. Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, cả hai anh vẹn nguyên trở về lại đi học đại học. Bây giờ một Sài Gòn, một ở Hà Nội. Làng xóm ai cũng trầm trồ. Người ta trầm trồ vì rằng ông bà vốn mù chữ mà con cái thông minh thành đạt. Thế mới tài! Và càng trầm trồ nức nở khi có “khoán mười” rồi “chỉ thị 100”: ông Quân “ồ” mù chữ mà ngày xưa nói đúng phết!

Kệ thiên hạ trầm trồ ông lão vẫn lặng im. Ba năm trước bà lão mất. Đám ma to lắm, cả làng đưa tiễn vì ông bà ăn ở tử tế đức độ. Rồi khách khứa tận Hà Nội, Sài Gòn về phúng viếng... xe ô tô mấy chục cái đậu chật đường làng, xe máy dựng kín cái sân kho cũ. Xong việc tang, anh con cả định đón bố lên Hà Nội, anh con thứ muốn đưa bố vào Sài Gòn thì ông kiên quyết “một tấc không đi một ly không rời” bảo rằng thì là tao vưỡn khỏe, rồi tao phải ở nhà thờ phụng tổ tiên, hương khói cho bà ấy... Mấy lị lên nhà chúng mày khó chịu bỏ mẹ... đến đi ỉa cũng chả được thoải mái, ở nhà sướng hơn! Chúng mày không phải lo... Tiền trợ cấp thương binh, tiền bán chuối, bán ổi ông đủ tiêu, nếu có gì đã có ba đứa con gái lấy chồng ở gần. Ngày lễ ngày Tết chúng mày cho các cháu về với tao là được rồi. Các anh đành chịu.

Ông cố thủ ở nhà, các chị con gái trưa tối hàng ngày sang với ông, các cháu ngoại tối đến ngủ canh chừng. Lại được chị Chắt là cháu đằng ngoại của bà ngày xưa được bà làm mối lấy chồng cách nhà ông có hai ngõ. Vậy nên ông chả thấy buồn. Nhiều lúc còn vui là đằng khác, vì thằng Nam con nhà Chắt thấy nhà ông có cái sân rộng nên hay rủ bạn bè sang đánh bi đánh đáo...

*

*   *

- Chết rồi... Tùng ơi!

Thằng Nam thì thầm quay sang giật áo thằng Tùng ngồi kế bên nó. Thằng Tùng ngoảnh ra nhìn theo hướng nhìn của thằng Nam: Ngoài ấy ông Quân ồ đang dệnh dạng bước vào cổng trường! Tùng tái mặt lấy cái thước chọc vào vai  Liêm ngồi bàn trước. Thằng Liêm nhăn mặt quay lại. Tùng hất hàm về phía ngoài cổng. Như phản ứng dây chuyền, đến lượt thằng Liêm xám mặt. Lớp 6 của chúng đang giờ học Toán, nhưng chẳng chữ nào vào được đầu ba thằng vì chúng đều nghĩ: Chết rồi. Chết chắc rồi. Ông Quân “ồ” vào trường để tố cáo Ban Giám hiệu chuyện hôm qua...

Chiều qua ba thằng đến nhà ông Quân “ồ” để đánh bi. Chúng rón rén vào sân... việc đầu tiên là phải xem ông lão thức hay ngủ. Nếu ông thức thì chỉ việc chào rồi chơi thoải mái. Nếu ông ngủ thì phải chuồn êm vì bố mẹ chúng dặn không được làm phiền người khác. Thằng Nam thì thầm bảo hai thằng đứng đợi, nó sẽ vào trinh sát. Lát sau nó trở ra bảo ông í đang ngủ, kiếm chỗ khác chơi thôi. Cả ba thằng ngao ngán: chơi đâu bây giờ? Chúng nhìn ra đường bắt gặp khu vườn ổi mọi khi được ngăn cách với con đường bởi hàng rào tre gai kín đáo giờ thông thống bởi hàng rào tre đã biến mất. Lạ nhỉ? Ba thằng đi thẳng ra vườn ổi, chúng thấy những bụi tre gai đã bị đánh bật tung gốc nằm ngổn ngang trên mặt vườn ngay cạnh các gốc ổi. Một con đường bằng bê tông rộng cỡ đến bốn mét thay thế cho con đường đất nhỏ mọi khi nằm bên ngoài hàng rào tre. Vậy ra xóm mình đã mở con đường rộng ra lấn hết cả bờ tre gai. Đúng rồi, đang làm đường“Nông thôn mới” đây mà- Chúng nghe đài truyền thanh nói thế. Các thầy cô giáo cũng bảo là trường ta đang xây dựng “trường chuẩn quốc gia” để xã được công nhận là xã “Nông thôn mới”.

Thằng Liêm bỗng nhìn lên rồi reo nho nhỏ: Nhiều quả quá chúng mày ơi... Trên tán lá rợp của khu vườn lúc lỉu những chùm quả ổi xanh chỉ to gần bằng cái chén nhỏ. Có ăn được không nhỉ? Vậy là mỗi thằng trèo lên một cây. Thằng Nam hái quả đầu tiên đưa lên miệng cạp. Ôi giời chát, nó vội nhè ra rồi thuận tay ném quả ổi xanh gặm dở sang thằng Liêm. Thằng này đang trèo lên cây bên kia thì bụp một phát quả ổi bay vào lưng. Nó nhăn mặt ngoảnh lại thấy thằng Nam đang nhe răng cười có vẻ khoái chí... vậy là nó tức khí cũng bứt một quả ổi ném lại. Thằng Tùng cũng bứt ổi ném về phía thằng Nam. Tự dưng thành trò chơi ném nhau. Thằng nào cũng trổ tài trèo từ cành này sang cành khác để tránh đạn ổi và đồng thời bứt quả ném sang nhau. Rồi chúng khoái chí nhìn đối thủ nhăn nhó khi bị ném trúng. Càng chơi càng hăng, hăng đến quên việc ông lão đang ngủ trong nhà. Chúng hét “chết này, chết này” và cười khanh khách om sòm cả góc vườn.

Tiếng bọn trẻ la hét làm ông Quân “ồ” tỉnh giấc. Ông lão ngồi dậy nghiêng tai nghe. Cái gì thế? Lại mấy thằng giặc nô nghịch đây mà. Nhưng mà chúng nó ở đâu mà tiếng gần thế? Ông lão chẳng kịp xỏ dép, vớ lấy cái gậy chống vội ra sân. Ngoài sân không thấy đứa nào. Cố mấy bước nữa ông ra bụi chuối mép vườn: ngoài vườn cũng không thấy đứa nào. Nghiêng cổ nghe thấy tiếng hét trên đầu, ông lão hấp háy nhìn lên thấy tán lá ổi đung đưa như phải bão. “Đứa nào? Xuống ngay! Gẫy cành chết cha chúng mày bây giờ”- Ông lão quát rồi cứ chân trần xăm xăm ra vườn.

Ba thằng “giặc” mải chơi nghe thấy tiếng hét thì thất kinh. Chúng vội từ trên cây nhảy xuống. Huỵch một tiếng... thằng Tùng rơi ngay dưới gốc cây. Ông lão trông thấy vội chạy lại để đỡ... loạng quạng thế nào chợt sựt một cái ở gan bàn chân. Giời ạ. Phải gai rồi. Bàn chân buốt nhói. Cố nhấc chân lên thì chân kia vướng phải một cành tre, ông lão mất thăng băng ngã nhoài úp mặt xuống đất. Thằng Tùng ngẩng lên thấy ông lão ngã thì hoảng hồn. Nó vội nhổm dậy... hai thằng kia đứng đờ người thất kinh nhìn ông lão vừa ngã. Chết rồi! Không ai bảo ai cả ba thằng cùng phóng thẳng ra đường.

Chạy một quãng chúng dừng lại thở. Bây giờ thì không đứa nào cười được nữa. Mặt chúng tái mét vì sợ. Sợ vì không biết ông Quân “ồ” ngã như vậy có việc gì không? Ông mà chết thì nguy! Ba thằng rón rén quay trở lại nấp vào chỗ kín, thò mặt ra quan sát. Chúng thấy ông lão đã ngồi dậy đưa tay rờ rờ dưới bàn chân. Khi tay ông đưa lên thấy đỏ lòe. Rồi ông bò đến bụi chuối mép vườn, bám vào thân cây chuối cố vươn người đứng dậy giật một tàu lá chuối non. Ngồi thụp dưới đất, ông lão xé một mảnh lá chuối cho vào miệng nhai trệu trạo lấy bã rịt vào chân, lại xé mảnh khác bó chỗ vừa rịt và lấy dây chuối buộc lại. Xong việc ông lão chống gậy lò dò bước miệng lẩm bẩm ô xời cái lũ mất dạy, mất dạy... ông bảo bố mẹ chúng mày đập chết...

Ba thằng mất dạy yên tâm ông lão không chết nhưng lại sợ tối nay no đòn của bố mẹ. Chúng buồn bã giải tán đứa nào về nhà đứa ấy.

Buổi tối cả ba thằng chăm chỉ ngồi vào bàn học. Mẹ thằng Nam chạy sang nhà ông Quân “ồ” để xem đã có đứa cháu ngoại nào của ông đến ngủ canh ông cụ chưa. Lúc về mẹ bảo cụ già hôm nay dệnh dạng ra vườn làm gì mà tre gai đâm cho có vẻ đau lắm. Thằng Nam căng tai nghe, không thấy mẹ nói gì khác thêm. Thì ra ông Quân “ồ” chỉ dọa chứ không mách bố mẹ. Yên tâm!

Bây giờ ông Quân “ồ” lại vào trường. Chắc chắn là đến để tố cáo ba thằng, đề nghị nhà trường kỷ luật. Phen này thì bị cảnh cáo trước toàn trường, bị ghi vào học bạ. Rồi mai bố mẹ biết lại còn bị ăn đòn. Lão già ác thật, thâm thật. Ba thằng đều chung ý nghĩ: Làm gì bây giờ. Làm gì bây giờ?

Cả buổi học ba đứa nhấp nhổm không yên. Hôm nay là thứ Bảy rồi. Nếu bị tố cáo thì thế nào cũng phải làm kiểm điểm. Tan học vẫn không thấy gì. Lạ nhỉ!

Buổi chiều thằng Nam không phải đi học. Cu cậu chui vào buồng đánh một giấc. Đang ngủ nghe thấy tiếng mẹ nó chào “Cụ ạ”. Nó giật mình nhỏm dậy nhìn ra: Ông Quân “ồ” chân quấn băng, tay chống gậy đứng ở sân nhà nó. Phen này thì chết chắc rồi. Ông ấy sang mách tội mình đây.

- Tao sang giả mẹ Chắt hai chục đây.

Mẹ nó đon đả nhận tiền: Con xin. Thì ra cụ vay tiền con để ủng hộ nhà trường à. Con nghe thấy xã và nhà trường biểu dương cụ trên Đài truyền thanh. Già rồi việc gì phải thế. Mà có tám chục thì ủng hộ tám chục việc gì phải cho đủ trăm.

Ông già nghiêm mặt:

- Cái con mẹ này ăn nói hay nhỉ. Tao nghe nói nhà trường người ta xây dựng trường chuẩn để có cái cho bọn trẻ nó học nó chơi. Chứ cứ để chúng nó lông bông học chả ra học, chơi chả ra chơi... rồi sinh hư. Gớm, vào trường xem cái phòng... phòng gì mà toàn máy... máy gì ấy nhỉ mà chữ nghĩa cứ chạy nhoang nhoáng, rồi có cả máy chiếu bóng nữa nhá. ối tiền chứ không à? Vậy nên phải cố góp một tý. Sáng ra lẫn cẫn thế nào mà tám chục lại bảo một trăm. Dọc đường thấy thiếu mới phải vay. Đáng gì! Bây giờ chỉ có vậy. Tháng sau tao bán ổi sẽ ủng hộ thêm.

-Vậy sao ông không bảo các chú các cô ấy gửi tiền về để ông ủng hộ, việc gì phải bòn nhặt. Hay là ông muốn lấy tiếng thương binh gương mẫu.

- Ô xời... cái con mẹ này. Tao vả vào mồm bây giờ! Sắp xuống lỗ rồi còn tiếng tăm làm gì. Chả hiểu cái gì sất. Tiền chúng nó thì chúng nó ủng hộ. Tiền tao tao ủng hộ. Ai cũng phải ủng hộ.

Rồi ông lão tấp tểnh ra về. Đợi ông ra đến ngõ thì thằng Nam phóng theo. Đến trước mặt ông, nó cúi xuống ấp úng:

- Ông ơi... cho... cho con xin lỗi!

Ông già hấp háy mắt nhìn xuống:

- Ô xời... tiên nhân chúng mày, thuần nghịch dại. Thế cái thằng cu gì con nhà gì đấy nó ngã có đau không? Tao thấy nó chạy được thì mừng chắc không việc gì. Thôi về mà học đi.

Chị Chắt mẹ thằng Nam đứng trong sân nhìn ra: Không biết ông Quân “ồ” với thằng con nhà mình đang nói với nhau cái gì ấy nhỉ?

Truyện ngắn: Mai Tiến Nghị (Nam Định)

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)