Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 149 khách Trực tuyến
Nhân vật
Vĩnh biệt nhà thơ Thanh Tùng

Tin buồn

Nhà thơ Thanh Tùng (tên khai sinh Nguyễn Doãn Tùng), hội viên Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng (1968), hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1980). Ông sinh ngày 7/11/1935 tại xã Gia Hòa, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định; Qua đời lúc 21h30 ngày 12/9/2017 (tức 21/7 âm lịch) tại nhà riêng số 24/7 Phạm Ngọc Thạch, Q.3, TP. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 83 tuổi.

Thời học sinh, Thanh Tùng học trường cấp 3 Ngô Quyền (trường Bonnal xưa) – ngôi trường lớn và giàu truyền thống nhất Hải Phòng. Ông đã trải qua nhiều nghề: Giáo viên thể dục, công nhân đóng tàu, thợ khuân vác, áp tải hàng hóa... Những năm làm thợ cũng là những năm dần hình thành nên nhà thơ công nhân và tài hoa Thanh Tùng sau này.

Ngoài các tập thơ in chung, năm 2011 ở tuổi 66, ông mới xuất bản tập thơ đầu tay Thời hoa đỏ. Trong đời thơ của mình, Thanh Tùng 2 lần được nhận giải thưởng văn học đề tài công nhân của Tổng Công đoàn Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam, 2 lần nhận giải thưởng của UBND thành phố Hải Phòng, một số giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, Báo Người Hà Nội, Tạp chí Cửa Biển. Thanh Tùng có 2 bài thơ hay Thời hoa đỏ, Hà Nội ngày trở về được các nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng, Phú Quang phổ nhạc thành 2 ca khúc hay được nhiều người yêu thích.

Thanh Tùng là thi sĩ nghèo dù về tiền bạc, nhưng giàu lòng nhân ái, sống nghĩa tình với vợ con, anh em, bạn bè văn nghệ.

Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật thành phố  Hải Phòng và Tạp chí Cửa Biển xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến gia đình nhà thơ Thanh Tùng.

 

Nguyễn Thị Hoài Thanh

Nhớ Thanh Tùng


Anh đã về nơi câu hát,

Phượng rơi tan tác quê nhà.

Con đò cũ, bờ gió cũ,

Sao giờ neo ở bến xa ?


Chúng ta như còn đông đủ,

Trong trang bản thảo bạn bè.

Quán Văn* ai say vẹo vọ?

Để chiều tắt vội cơn mưa.


Vừa làm được bài thơ mới,

Lại thấy bóng anh vỉa hè.

Bàn tay cầm kìm cầm búa,

Chào nhau giọng cũng choang choang.


Chúng ta dẫm lên chát chúa,

Mồ hôi nước mắt lầm than.

Thơ chỉ thể nuôi được gió,

Muôn đời thơ vẫn lang thang...


Anh đã về “Thời hoa đỏ”

Tôi còn đi mót đồng làng.

Khi nao bờ sông lặng gió,

Chạy ù làm hớp rượu suông.


Dẫu biết bây giờ cũng khó

Đợi tôi đi nốt quãng đường.

20/9/2017

* Quán Văn: Nơi nhiều văn nghệ sĩ Hải Phòng lui tới, nhà thơ Thanh Tùng đã làm ở đó một thời gian.

 

Vĩnh biệt nhà thơ Thời hoa đỏ

Công Nam


Được tin tác giả của Thời hoa đỏ xa cõi thế, xa con đường phượng vĩ, xa những câu thơ ông đã hát cho bao thời đắm say, tôi lặng người chốc lát, và định thần, thế là từ nay những câu thơ ông viết về Hải Phòng dấu yêu sẽ mãi ở lại: “Trên bến bờ/ Người ra đi/ Biết mình yêu đến thế/ Thành phố dịu dàng trong sương ẩm ướt/ Những vết tường rêu phong xanh ngái ngủ/ Tiếng còi tàu mềm đi như nỗi nhớ…” và  “Tôi yêu dãy phố của tôi/ Cả hè đường xi măng cũ kỹ/ Mòn trơ khấp khễnh/ Vấp bật móng chân/ Những bếp chật thêm gần”.  Ôi, lòng ông mềm đi hay lòng người yêu thơ ông mềm? Dẫu thời tuổi trẻ của ông sẽ mãi  xa “Mười bảy tuổi tôi vào đời thợ/ Buổi làm đầu về/ Mẹ tôi run run ra chờ đầu ngõ/ Bữa cơm hôm ấy có thêm món xào cua bể”, nhưng thưa ông, tình yêu phố Cảng của ông sẽ lại thức giấc khi “Mỗi mùa hoa đỏ về”.

Biết rằng sinh tử là chuyện trời ban trời định, nhưng khi hay tin ông giã biệt cuộc đời này, tôi vẫn nghiêng mình mở bài Thời hoa đỏ nguyện vọng dưới chiều mưa tiễn ông:

Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết

Anh đâu buồn mà chỉ tiếc

Em không đi hết những ngày đắm say

... Sau bài hát rồi em cũng thế

Em của thời hoa đỏ ngày xưa

Sau bài hát rồi anh cũng thế

Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

Xin vĩnh biệt ông - Thời hoa đỏ - nhà thơ Thanh Tùng!

Hải Phòng, chiều mưa 13/9/2017

 

 

Chia tay anh một đoạn nhé, nhà thơ Thanh Tùng

Trần Thị Bảo Trân

(Đồng Nai)

 

Thanh Tùng ứng tác

Thanh Tùng ứng tác,

Con gà cục tác

Con gà cục tác...

Nó đẻ trứng vàng !

Văn nghệ là thế, gặp nhau để đọc thơ, để nghe thơ. Để chắp cánh cho cảm xúc bay mãi. Thương nhau lắm, càng khổ càng thương. Củ hành, đĩa dưa muối, bún đậu và rượu là bữa tiệc không bao giờ tan ở chiếu thơ của những nghệ sĩ, những đứa trẻ khổng lồ giữa cõi nhân gian này. Trời cho và trời cũng đày đọa, cho những câu chữ khi như cỏ mọc, khi bay bổng xuất thần, cho tâm hồn nhạy cảm và dễ yêu dễ khóc. Đày đọa để khổ mà không biết khổ, lang thang mà tưởng mình như kiếp chim du cư chỉ cần những giọt sương mai là đủ. Và dù ở đâu cũng không thể quên được nhau, quên được những phút giây đậu lại giữa chiếu đời.

Câu đùa ứng tác của Nguyễn Thị Hoài Thanh với Thanh Tùng vào một đêm sinh hoạt thơ của CLB thơ Cung Văn hóa hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng, trong một phút hưng phấn đã được bạn bè hưởng ứng bởi đó chính xác là anh, những câu thơ ứng tác của anh là Vàng, chất Vàng ấy mãi mãi ở lại trong lòng bè bạn yêu mến anh. Cuộc sống vốn khe khắt, anh lúng túng và ồ ề giữa những bề bộn của xã hội thời kỳ đổi mới. Nguyễn Thị Hoài Thanh và Thanh Tùng đều xuất thân là những người thợ, chỉ giỏi tay kìm tay búa mà không giỏi khi bị bỏ ra vỉa hè với những đưa đẩy đồng tiền bát gạo, những chua chát hơn thua. Có những lúc muốn vất hết lại mà chạy đến một nơi nào đó chỉ toàn nắng với thơ.

Vào cuối năm 1990, khi những người thợ cơ khí như họ không còn việc làm, cơ cấu xã hội thay đổi. Họ cũng đã ngoài năm mươi tuổi mới tập buôn bán. Nguyễn Thị Hoài Thanh ngồi nhờ nhà mẹ đẻ tôi bên phố Quang Trung, mua mấy chiếc bàn bi-da loại nhỏ cho thuê. Thanh Tùng thì ở bên vỉa hè phố Nguyễn Đức Cảnh bán đồ nhựa gia dụng. Họ chạy qua chạy lại rất gần vào những lúc ế hàng, hầu như vậy. Hôm đó cũng giáp Tết, Nguyễn Thị Hoài Thanh tranh thủ sang phố Tô Hiệu mua thêm bàn bi-da nhỏ về phục vụ Tết. Từ phố Quang Trung sang phố Tô Hiệu phải đi qua chỗ Thanh Tùng, bữa đó cận Tết nên cửa hàng đồ nhựa của Thanh Tùng đông khách. Thấy Hoài Thanh, Thanh Tùng vẫy vào, giới thiệu với một người khách đang ngồi trong bàn. Lần đầu Hoài Thanh gặp nhà thơ Tô Hà cũng là người gốc Hải Phòng về chơi. Thanh Tùng nhờ Hoài Thanh tiếp Tô Hà sau khi giới thiệu hai người với nhau, rồi lại chạy ra chạy vào bán hàng. Khách thấy chủ bận nên mấy lần đứng lên chào về, mỗi lần khách đứng lên là một lần chủ ấn hai tay vào vai ngồi xuống, thật lạ, cuối năm bận như thế phải nhờ người tiếp mà vẫn giữ bạn. Hoài Thanh thì cũng bận nhưng nể và thế là họ đành bỏ thơ ra tiếp nhau. Sau mỗi bài thơ Tô Hà đọc Hoài Thanh lại hút một điếu thuốc. Bình thường Hoài Thanh không hút. Hôm đó Tô Hà đọc mười bài, vậy là Hoài Thanh hút hết nửa bao thuốc. Hậu quả vụ thưởng thơ này Hoài Thanh bị viêm họng nặng, và có được một kỷ niệm về bè bạn. Nhà thơ Tô Hà mất sau đó ít lâu khi tuổi đời còn sung mãn.

Hoài Thanh bảo: Lần này tôi tiễn Thanh Tùng, anh ấy đi trước tôi một đoạn, như mới hôm qua anh về Long Khánh (Đồng Nai) thăm tôi, trước khi trở lại Tp Hồ Chí Minh anh dúi cho tôi 100 ngàn. Tôi hỏi làm gì có tiền mà cho? Anh nói, chỉ có ít thôi cứ cầm lấy.

Thật buồn thương vô hạn.

Tạm biệt anh, Hải Phòng chảy trong ngực anh và thơ anh chảy trong lồng ngực Hải Phòng. Chúng tôi cùng hòa vào dòng chảy ấy để thuộc nhau từng chút một./.

 

Nhớ nhà thơ Thời hoa đỏ  - Thanh Tùng

Những câu thơ đau đến thắt lòng...

 

Nguyễn Long Khánh

Tôi đã đọc chùm thơ của Thanh Tùng viết về nỗi nhớ “quê hương tội nghiệp” của anh mà lặng lẽ khóc... Tôi chưa gặp anh dù ở cùng thành phố. Ngày tôi đứng trong đội ngũ những người Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước làm đường ở Quảng Bình, tôi đã đọc bài thơ Thời hoa đỏ. Anh như nói hộ lớp người trai trẻ xa quê nỗi nhớ cháy bỏng về một thời tuyệt đẹp: Một thời chúng tôi đã sống, chiến đấu, yêu thương và hy vọng, xứng đáng là những chiến sĩ của Tổ quốc: Anh mải mê về một màu mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa sổ/ (...) Em hát một câu thơ ngày cũ/ Cái say mê của một thời thiếu nữ/ Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi.

Bài Thời hoa đỏ được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc trở thành khúc ca đồng hành kỳ diệu theo suốt chúng tôi trên nẻo đường chống Mỹ, lúc nào cũng say mê, đằm thắm, dịu dàng đến tận cùng: Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết/ Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say...

Từ ngày ấy, tôi đã cảm được tình yêu quê hương thật thủy chung ở anh. Nhà thơ - người thợ Thanh Tùng, anh mang cả sức xuân bằng đôi bàn tay thợ chai sần làm lụng, dựng xây thành phố của mình. Tôi được bạn bè thơ kể lại cuộc sống phóng khoáng, mặn chát vị muối biển của anh. Anh sống ồn ào, dữ dội, hết mình... ở đâu có anh là ở đó có những câu thơ ứng tác tài hoa, nóng rẫy như thép của thợ mới ra lò hệt ngọn gió Lào hầm hập đốt đi sự lạnh lùng, tẻ nhạt, tầm thường... Có lẽ vì cách sống bản năng, cả tin, hết mình ấy mà đời anh gặp không ít những chuyện buồn... (vì Cơm áo đâu đùa với khách thơ?). Anh phải xa Hải Phòng dù anh không muốn... Phải ra đi, xa cái thành phố ồn ào, bụi bặm mà người thợ Thanh Tùng đã dồn hết sức mình vào Tiếng búa khắc vào hồn phố, anh đã viết những câu thơ gan ruột đau đáu của mình, làm ai đọc cũng rơi lệ: Mai tôi đi rồi/ Tôi có khóc đâu mà gió ướt/ Mà nắng rát lên tôi mặn chát/ Mai tôi đi rồi/ Để lại đây tiếng búa khắc vào hồn phố/ Cùng mộng mơ lảng vảng cuối con đường/ Những giọt mồ hôi từng hát lên trong suốt/ Những lưng thợ đã bết mãi vào nhau/ Ngọn lửa kia đốt lên thời trai trẻ/ Bây giờ còn nóng trong tôi...

Dù anh đi đâu, làm gì, ở mãi cái thành phố phù hoa cách quê hương đến hơn nghìn cây số, trong cuộc sống hỗn tạp, xô bồ ấy anh vẫn nhớ về “Màu xanh của liễu bên hồ Tam Bạc” và vẫn cảm thấy như mình “vẫn chen chân trên đường Cầu Đất” với nỗi nhớ thủy chung như nhất hệt “Hoa bằng lăng tím đến dại khờ”...

Trong cuộc chiến vất vả đời thường, Thanh Tùng đã gặp nhiều thử thách đau đớn, thất bại để lại những vết thương tâm hồn ghê gớm tưởng chừng có thể giết chết tiếng thơ của anh, đã có lúc anh phải kêu lên: Ôi tới lúc sợi tơ cuối cùng không giữ nổi/ Và máu kia chết tím cả trời xanh/ Thu ra đi đôi cánh vàng rã rượi/ Nơi cuối trời khép lại một màu tang.

Anh như gục ngã, tuyệt vọng vì anh thấy: Và nàng thơ cũng ra đi/ Hồn xơ xác và máu ta loãng thếch. Thú thật, đọc bài thơ này tôi sợ thay cho anh vì nỗi thất vọng quá lớn đã làm “tàn cả một mùa thu” đã lấy đi “Hồn của anh cùng sương khói trần trụi ngập tràn”...

Nên ta thật mừng vui, sung sướng khi đọc bài Hy vọng, khi người thợ đất Cảng – Thanh Tùng vươn lên khẳng định ý chí của mình: Với riêng tôi không tuyệt vọng bao giờ/ Tôi nhóm lửa lên từ củi ướt/ Không có đất tôi tìm ra đất/ Đất hồn tôi nuôi xanh ứng lên sau bất hạnh/ Tôi gượng đứng lên, máu ngắt cây đời/ Tôi hồi sinh, tôi mãnh liệt/ Trong tôi cỏ lại mướt xanh rồi...

Anh đã chiến thắng khổ đau bằng bản lĩnh người thợ của mình, để tin tưởng và hy vọng vào cuộc sống, chiến thắng hoàn cảnh và tuổi tác của anh, câu thơ anh ngời ngời hy vọng:  Hy vọng phát ra từ muôn nhịp trống căng/ Từ tiếng búa tôi vang, từ lời thơ tôi cất/ Thành bao bông hoa tím nở bên đường.

Một khúc ca thật lạc quan, mang sức sống mãnh liệt ở nơi anh. Tôi xúc động vô cùng khi đọc bài Trở về anh viết khi trở lại thành phố yêu thương sau bao năm xa cách. Tình yêu thật giản dị, đằm thắm, sâu thẳm song lớn lao, nó làm ta đau đến thắt lòng khi đọc những câu thơ: Thành phố gầy như ngực mẹ tôi/ Tôi không dám mạnh chân sợ mặt đường long nhựa/ Không dám cả cười buông thả/ Sợ bao vết thương bom đạn vẫn chưa lành. Không ai có thể viết hay, xúc động như anh về cái giờ phút bắt gặp ánh mắt trẻ thơ (ánh mắt của thời hoa đỏ trai trẻ trong anh) câu thơ thật có “thần”: Những em gái thập thò sau khung cửa/ ánh mắt như màu rượu đã lâu ngày.

Chao ôi ! Tình yêu quê hương của anh mới kỳ vĩ làm sao? Chính tình yêu ấy đã làm anh nói ra điều hệ trọng với bao người cầm bút: Tất cả vẫn còn nguyên vẹn/ Để tôi về với thơ ngây/ Để tôi hiểu vì sao tôi có thể/ Bấy lâu nay viết được những vần thơ.

... Và anh trầm ngâm tự vượt qua “những nặng nề dĩ vãng”, “những buồn đau nhọc nhằn” của cuộc đời, anh lặng lẽ suy tư, ngước nhìn lên bầu trời bao la và đợi: Về đây trên bờ cỏ ngập/ Đợi chân trời thấp thoáng cánh buồm xưa.

Cảm ơn những nhà thơ xa quê như anh Thanh Tùng và chị Nguyễn Thị Hoài Thanh, dù ở đâu, làm gì, dù gặp những khó khăn, bất hạnh chua xót thế nào... các anh, các chị vẫn nhớ về thành phố bằng những bài thơ gan ruột rần rật máu chảy về tim, như nỗi đau muôn đời trần thế đến quặn lòng hệt bài thơ Chợ Cầu Rào mà Nguyễn Thị Hoài Thanh đã viết. Chính vì sự cảm nhận ấy mà bạn bè cầm bút, những người yêu thích thơ ở vùng biển này luôn mến yêu anh với cả tấm lòng. Anh đã làm được những điều thật đáng trân trọng cho “nơi chôn nhau, cắt rốn của mình”.

Anh Thanh Tùng thân kính ! Đừng bao giờ anh nghĩ “Mình lại còn mang danh là nhà thơ”, anh chính là Nhà thơ viết hoa, nhà thơ đích thực của cái thành phố “thời hoa đỏ”, gừng cay, muối mặn này mãi mãi? Anh hãy tin như thế ! Nhà thơ - người thợ Thanh Tùng./.

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)