Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 11 khách Trực tuyến
Chân dung


Bến Xuân*

VŨ ANH XUÂN

(Nhân 95 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn Cao)

Cây can trong tay cùng ông đi trên những con đường quen thuộc như là người bạn đồng điệu dễ rung cảm trong tâm hồn đa dạng của ông. Cây can rung lên những nét nhạc ở trong đầu ông trong những sáng tác bài ca ông đi, ông đi, thế kỷ của những thiên tài. Sông Cấm nước đục ngầu thưa thớt những cánh buồm nâu vá víu không chống nổi những trận gió thổi từ phía biển. Những cánh chim giang hồ giọng khàn khàn bay lượn trên mặt nước. Ai thương chúng hơn ông, mắt dõi nhìn mong được nơi trú đậu. Cánh chim mà ông nặng lòng mãi, cũng như số phận đau buồn những con người ông mắc nợ từ lâu. Ông nghĩ, chim cũng có cuộc đời và số phận trong cái khoảng không bao la này. Sóng ầm ào khơi xa gọi ông ra với biển như đánh vào nơi mẫn cảm nhất của hồn ông** Không phải ít lần ông đau buồn về sự bất lực nào đó. Sóng biển có giải tỏa được hay càng dâng lên sự dằn vặt không thôi!

Ông đi, ông đi cả những đêm mưa giờ khắc mọi người đã yên tĩnh dưới những mái nhà. Những giọt nước mưa của đất trời như thương ông muốn tránh cho ông, ông đi, ông đi máu giang hồ lãng tử. Cây can đồng điệu cùng ông tìm về những gì rất xưa rất xưa, dường như chỉ có ông và màn đêm độc thoại.

Ông sinh ra để suy ngẫm và viết. Ông gửi tình ông vào những bài ca đậm hồn quê Việt***

Đến khi những năm tháng biến thiên ông mơ về Bến Xuân - ông mơ nước Bến Xuân cuồn cuộn chảy ra biển lớn đầy sóng gió bão táp những đoàn quân trước cờ hùng dũng hát vang bài ca theo nhịp bước trở thành bản hùng ca ngang tầm lịch sử.

Những người thích đọc và thuộc thơ ông hay xem tranh vẽ của ông họ tìm thấy mình bao thế kỷ bỏ rơi - những người thợ thuyền lầm than lam lũ trong cái thành phố thuộc địa bên dòng sông Cấm đục ngầu này chỉ có vài ngôi nhà vươn lên tòa tháp vút cao như những con mắt mệnh danh là xứ sở  “văn minh” dõi nhìn tầm xa.

Những nhà văn là lớp con cháu đọc ông thương ông rồi chia sẻ nỗi đau đời buồn tê tái trong ông. Và trước chân dung ông không phải chỉ để ngắm nhìn mà được truyền từ trái tim thương đời của ông trong những sáng tác của mình.

Người đời vẫn hát bài hát của ông. Năm tháng thời gian có thể họ chẳng nhớ tên tuổi ông như đã gắn ông vào định mệnh. Bến Xuân - bến bờ tâm tưởng có phải nơi ông được yên nghỉ thanh thản với con thuyền cánh buồm dòng sông?

Như là ông vẫn đi trên con đường xưa cũ đã thay đổi nhiều qua thời gian ông đi, ông đi cây can trong tay chạm vào dư ba của đất!

 

* Cảm hứng sau khi đọc “Bến Xuân” -  truyện ngắn của Bão Vũ

** Câu văn của Bão Vũ.

*** Văn Cao- tác giả ca khúc “Bến Xuân”.

 
Nhớ Văn Cao, Nguyên Hồng

VŨ TỪ SƠN

(Bắc Giang)


Có hai người thân thiết thường gặp nhau

họ đậm sâu thương nhớ Hải Phòng

một người thương những kẻ khốn khó

trong “Bỉ vỏ” mà khóc

một người thương bạn khóc

mà hát “Suối mơ”, “Thiên thai”...


Họ chia tay nhau trong ngậm ngùi,nuối tiếc

một về với “Núi rừng Yên Thế ” bao la

thương dân ấp Cầu Đen một nắng hai sương,

đất sỏi trung du mờ sương khói

một ở lại vui với “Mùa xuân đầu tiên”

đất nước khải hoàn,

nối dài khúc “Tiến quân ca” hùng tráng


Sau khoảng lệch thời gian,

họ về đoàn tụ tâm linh

tái lại cảnh xưa dan díu ân tình

trời Hải Phòng lãng đãng ẩn hiện đôi bạn ấy...

 
Nhớ Văn Cao

TRẦN NHƯ THỨC

(Hà Nam)

 

Tổ quốc Việt Nam nhớ mãi Văn Cao

Người nghệ sĩ đa tài tay đàn, tay súng

Nhớ  “ Tiến quân ca”, “ Quốc ca” hùng tráng…

Nhớ vần thơ sâu lắng nhân văn.


Như “ Trời xanh rơi vài giọt Tháp Chàm”

Thi sĩ Văn Cao về với người cửa biển

Uống chén rượu nồng, nghe lá rơi xao xuyến

Gà gáy canh khuya trằn trọc nỗi niềm

Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi đâu?...

Họa sĩ Văn Cao lắng sâu nhịp thở

Nhành cọ trầm tư vẽ “ Phố Nguyễn Du”

Họa bức chân dung người vẽ cờ Tổ quốc….


Nửa thế kỷ trôi qua, “ Cây đàn đỏ” vút trời xanh sóng nhạc

Người sáng tác “ Quốc ca” vẫn cùng nhân dân hát,

Mái tóc danh nhân bạc trắng tháng năm dài…

Và Văn Cao nhẹ gót “ Thiên Thai”

“ Thời gian” lướt qua kẽ tay thế kỷ…

Đất nước, quê hương nhớ người nghệ sĩ

Hùng tráng “ Quốc ca” vang vọng đến tương lai.

 

Những chữ trong ngoặc là tên tác phẩm của Văn Cao

 
Viếng mộ nhà văn Nguyên Hồng

NGUYỄN THỊ THÚY NGOAN

Nhân 100 năm ngày sinh nhà văn

 

Heo may se lạnh hàng cây

Hải Phòng thu gió đong đầy yêu thương

Lá rơi quấn quýt con đường

Những trang tiểu thuyết còn vương một thời


Nguyên Hồng nhặt chữ của trời

Làm nên tác phẩm để đời hôm nay

Người giờ xanh lá xanh cây

Như ngôi sao sáng - nước mây giữa đời


Năm Sài Gòn - Tám Bính... ơi!

Trăm năm cay đang khóc cười còn xanh

Hải Phòng - giống khế ngọt lành

Nhã Nam - kỷ niệm đơm cành trĩu hoa

Bao nhiêu tên phố - tên nhà.!.

Phọng Bớp, ngõ Cấm... làm ra tên Người

Rượu là máu trộn mồ hôi

Sở thầu Tây cụt, đưa người vườn hoa... húng con một quãng đường xa

Hương thơm ba nén gọi là thành tâm

Người về yên nghỉ ngàn năm...

Bên dòng suối mát nước thăm thẳm chiều

 

Trăm năm còn nhớ bao điều...

Nén nhang nghi ngút đổ xiêu cuối trời!

 

1/11/2018

 

* Những chữ đứng là tên ngõ, phố Hải Phòng trong tác phẩm Nguyên Hồng

* Cây khế được nhà văn mang từ Đông Khê (Hải  Phòng) về Nhã Nam (Bắc Giang) 57 năm

 
Trăm năm “một cõi đi về”

“Bốn trong một” là bốn hoạt động kỷ niệm 100 ngày sinh nhà văn lớn Nguyên Hồng (5/11/1918 – 5/11/2018) do Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức, mở đầu là chuyến về thăm ngôi nhà trên đồi Văn hóa kháng chiến - nơi Nguyên Hồng sống những năm cuối đời và thắp hương trước mộ nhà văn dưới chân núi Án (Bắc Giang) ngày 30/10. Tiếp theo là Triển lãm Tác phẩm Nguyên Hồng và về Nguyên Hồng trong bộ sưu tập của nhà báo Tô Hoàng Vũ tại Trụ sở Hội, Lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhà văn tại Trường Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Hải Phòng – nơi dựng tượng nhà văn và Triển lãm Chân dung gò đồng các văn nghệ sĩ và bạn văn chương của nhà thơ Phạm Xuân Trường với 83 chân dung, trong đó có chân dung nhà văn Nguyên Hồng. Các hoạt động này diễn ra trong cả ngày 3/11 với sự tham dự của lãnh đạo Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, đại diện lãnh đạo thành phố Hải Phòng, các văn nghệ sĩ Hải Phòng, Bắc Giang và các thành viên trong gia đình cố nhà văn Nguyên Hồng.

(Phát biểu của nhà biên kịch TÔ HOÀNG VŨ - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tại Lễ kỷ niệm)

Sinh ra và có thời thơ ấu tại quê hương bản quán ở Nam Định, nhưng sau khi cha mất, gia đình lâm vào cảnh túng bấn, Nguyên Hồng phải bỏ học, theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống. Cuộc sống phố thị nơi đất khách quê người cơ cực và ngang trái trong các xóm thợ nghèo khiến Nguyên Hồng thấy bức bối muốn viết và phải viết một cái gì đó!?

Sau 2 lần được gặp “thần tượng” Thế Lữ, người đang nổi như cồn – được coi là lá cờ đầu của phong trào Thơ mới và nhóm Tự lực văn đoàn - đang cùng gia đình sống ở Ngõ Nghè (Hải Phòng), Nguyên Hồng thấy tự tin và quyết tâm viết. Thế là, chỉ sau một năm ra Hải Phòng, Nguyên Hồng đã in truyện ngắn đầu tay Linh hồn; và thêm một năm nữa, lại có tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ, được Tự lực văn đoàn trao giải thưởng. Đó là năm 1937, Nguyên Hồng mới 19 tuổi đời.

Đồng thời với viết sách, viết báo, ông tích cực tham gia Mặt trận Dân chủ ở Hải Phòng, được Bí thư Thành ủy Tô Hiệu giác ngộ cách mạng, 21 tuổi Nguyên Hồng bị Pháp bắt. Sau khi ra tù, bị bắt lần 2 và giam ở nhà tù Bắc Mê (Hà Giang). Năm 1943, Nguyên Hồng tham gia Văn hóa cứu quốc cùng Như Phong, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi… Tháng 8/1945 ông tham gia giành chính quyền tại Hà Nội, sau đó tình nguyện cùng đoàn Văn nghệ sĩ Nam tiến vào mặt trận Nha Trang năm 1946. Nguyên Hồng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1948 tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Hòa bình lập lại, ông là hội viên sáng lập, là Ủy viên BCH khóa I Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957, tham gia phụ trách báo Văn, biên tập của tạp chí Văn nghệ, phụ trách trường Bồi dưỡng viết văn trẻ và Ban Văn học công nhân. Đặc biệt Nguyên Hồng còn là người thành lập Chi hội VHNT Hải Phòng (nay là Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng) từ 1/1964, trước Hà Nội 2 năm.

Thế hệ các nhà văn như Nguyên Hồng thường chia làm 2 giai đoạn sáng tác trước và sau Cách mạng Tháng 8. Có những người sáng như sao Mai ở đoạn đầu và mờ như sao Hôm ở đoạn sau hoặc ngược lại. Còn Nguyên Hồng và một vài người khác thì giai đoạn nào cũng tỏa sáng như sao Mai.

Sau thành công lóe sáng với tiểu thuyết Bỉ vỏ năm 1937, Nguyên Hồng còn khiến bạn nghề và độc giả “tâm phục, khẩu phục” ở tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu năm 1940. Bằng việc mô tả cuộc sống của những người sống dưới đáy xã hội lúc bấy giờ như phu phen, xích lô, ba gác cùng thế giới ngầm của các tay anh chị, như cách nói thời nay, cứ “chuông reo là bắn”, là cướp và bằng trái tim nhân hậu của người cầm bút, Nguyên Hồng cùng các nhà văn hiện thực phê phán trước cách mạng đã khắc họa hết sức chân thực, sống động những nhân vật điển hình trong những hoàn cảnh điển hình như Tám Bính – Năm Sài Gòn, Chí Phèo – Thị Nở; Chị Dậu; Xuân Tóc đỏ; Kép Tư Bền v.v...

Cách viết trong tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu từ năm 40 của thế kỷ trước chân thực và thuyết phục đến mức chả khác gì như cởi lòng mình ra trước bàn dân thiên hạ. Đến giờ, sau gần 80 năm, cái sự “chân…chân…thật…thật…” ấy của Nguyên Hồng vẫn khiến người đọc thực sự cảm động và bị chinh phục.

Sau giải phóng Thủ đô (10/1954) và giải phóng Hải Phòng (5/1955), dù bận bịu với những công việc của Hội, việc viết báo, mở trại sáng tác bồi dưỡng các nhà văn trẻ..., Nguyên Hồng vẫn gấp rút hoàn thành bộ tiểu thuyết Cửa biển 4 tập vào thời điểm năm 1976 lúc đó, Cửa biển là bộ tiểu thuyết có tính sử thi đầu tiên với không gian phản ánh rộng nhất, thời gian dài nhất, số trang nhiều nhất, số tập lớn nhất về đề tài đấu tranh yêu nước cách mạng giành lại độc lập dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. 4 năm sau - năm  1981, Nguyên Hồng đã cho xuất bản  tập đầu và hoàn thành bản thảo tập 2 của bộ tiểu thuyết 3 tập Núi rừng Yên Thế viết về cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của  Hoàng Hoa Thám cùng nghĩa quân Yên Thế.

Niềm vui ngắn chửa tày gang, ngày 2/5/1982 nhà văn của chúng ta đã đột ngột ra đi ở tuổi 64, mọi sự trở thành dở dang khi cây đàn giai điệu đang ngân bỗng tắt nửa chừng. Không ai tin được dù đó là sự thật!

Gần nửa thế kỷ cầm bút với di sản đồ sộ gần 40 tác phẩm thuộc nhiều thể loại từ truyện ngắn, truyện vừa, bút ký, tiểu thuyết đến thơ, tiểu luận, hồi ký... đều đầy ắp hiện thực tươi ròng, mà nói như Xuân Diệu, như đang còn “rên rỉ”, được vớt lên từ cuộc sống thường nhật của những người lao động nghèo khổ, cùng thái độ chia sẻ cảm thông của người cầm bút “Người ta gọi anh là nhà văn hay khóc/Trải đau nhiều nên thương cảm nhiều hơn/Đời nuôi anh dòng sữa nghè chắt lọc/Trái tim anh Nguyên vẹn một khối Hồng” (Đào Cảng). Trái tim của nhà văn cùng nhịp đập với nhân vật của mình, với bạn đọc của mình, chính là điều kiện tiên quyết để làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm.

Soi vào tác phẩm của Nguyên Hồng, soi vào cuộc đời của Nguyên Hồng, ta dần ngộ ra, vỡ ra nhiều điều, không chỉ về chuyện nghề mà còn chạm đến những phạm trù thuộc về nhân cách nhà văn, về văn hóa phê bình tác phẩm, về văn hóa giao tiếp v.v...và v.v...

Lúc sinh thời, nhà văn Nguyên Hồng còn được đồng nghiệp và bạn đọc gọi bằngnhững cái tên khác như Nhà văn của những người cùng khổ, Góocky của Việt Nam, Nhà văn hay khóc, Nhà văn thợ thuyền, Nhà văn đất Cảng Cậu giáo, Thầy Hồng - Quảng Bá, Ông Đốc Hồng, Bố Hồng,  v.v... Âu cũng là hạnh phúc không dễ gì có được của người cầm bút chân chính.

Cùng với nhạc sĩ Trần Hoàn và nhà thơ Nguyễn Viết Lãm trong Ban vận động thành lập Hội, Nguyên Hồng là người sáng lập, là Chủ tịch đầu tiên và liên tục 18 năm từ ngày thành lập (1/1964) cho đến khi qua đời (5/1982) của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng. Tôi đồ rằng, với tài năng và nhân cách của mình, nếu không vội ra đi, chắc chắn Nguyên Hồng vẫn được toàn thể hội viên tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội suốt đời.

Tiếc thay đời người là hữu hạn trong cõi vô cùng vô tận của trời đất, nhưng tác phẩm và nhân vật của Nguyên Hồng sáng tạo ra vẫn trường tồn cùng thời gian. 80 năm đã trôi qua, kể từ ngày ra đời thiên hạ vẫn đọc Bỉ vỏ, có nghĩa là Tám Bính, Năm Sài Gòn và cha đẻ của họ là nhà văn Nguyên Hồng vẫn hiện hữu trên cõi đời này. 20 năm sau, như chúng ta hôm nay, người đời sẽ còn kỷ niệm nhà văn Nguyên Hồng tròn 120 tuổi và Bỉ vỏ 100 tuổi.

Với Hải Phòng - quê hương thứ hai, quê hương văn học của Nguyên Hồng, không ít văn nghệ sĩ và bạn đọc đất Cảng vẫn như có cảm giác mong chờ, ngóng đợi nhà văn của mình “Rượu xuân đợi góc vườn hoa/Chỉ mong bác lững thững qua để mời” (Vũ Hiển).

Những người làm văn nghệ thành phố Hoa phượng đỏ nguyện sống và viết thật hay về thành phố quê hương và đất nước mình như bậc tiền bối Nguyên Hồng./.

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

 

 

 

 

Tạp chí Cửa Biển số 201 (3/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)