Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 121 khách Trực tuyến
Chân dung


Vĩnh biệt nhà thơ Thanh Tùng

Tin buồn

Nhà thơ Thanh Tùng (tên khai sinh Nguyễn Doãn Tùng), hội viên Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng (1968), hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1980). Ông sinh ngày 7/11/1935 tại xã Gia Hòa, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định; Qua đời lúc 21h30 ngày 12/9/2017 (tức 21/7 âm lịch) tại nhà riêng số 24/7 Phạm Ngọc Thạch, Q.3, TP. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 83 tuổi.

Thời học sinh, Thanh Tùng học trường cấp 3 Ngô Quyền (trường Bonnal xưa) – ngôi trường lớn và giàu truyền thống nhất Hải Phòng. Ông đã trải qua nhiều nghề: Giáo viên thể dục, công nhân đóng tàu, thợ khuân vác, áp tải hàng hóa... Những năm làm thợ cũng là những năm dần hình thành nên nhà thơ công nhân và tài hoa Thanh Tùng sau này.

Ngoài các tập thơ in chung, năm 2011 ở tuổi 66, ông mới xuất bản tập thơ đầu tay Thời hoa đỏ. Trong đời thơ của mình, Thanh Tùng 2 lần được nhận giải thưởng văn học đề tài công nhân của Tổng Công đoàn Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam, 2 lần nhận giải thưởng của UBND thành phố Hải Phòng, một số giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, Báo Người Hà Nội, Tạp chí Cửa Biển. Thanh Tùng có 2 bài thơ hay Thời hoa đỏ, Hà Nội ngày trở về được các nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng, Phú Quang phổ nhạc thành 2 ca khúc hay được nhiều người yêu thích.

Thanh Tùng là thi sĩ nghèo dù về tiền bạc, nhưng giàu lòng nhân ái, sống nghĩa tình với vợ con, anh em, bạn bè văn nghệ.

Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật thành phố  Hải Phòng và Tạp chí Cửa Biển xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến gia đình nhà thơ Thanh Tùng.

 

Nguyễn Thị Hoài Thanh

Nhớ Thanh Tùng


Anh đã về nơi câu hát,

Phượng rơi tan tác quê nhà.

Con đò cũ, bờ gió cũ,

Sao giờ neo ở bến xa ?


Chúng ta như còn đông đủ,

Trong trang bản thảo bạn bè.

Quán Văn* ai say vẹo vọ?

Để chiều tắt vội cơn mưa.


Vừa làm được bài thơ mới,

Lại thấy bóng anh vỉa hè.

Bàn tay cầm kìm cầm búa,

Chào nhau giọng cũng choang choang.


Chúng ta dẫm lên chát chúa,

Mồ hôi nước mắt lầm than.

Thơ chỉ thể nuôi được gió,

Muôn đời thơ vẫn lang thang...


Anh đã về “Thời hoa đỏ”

Tôi còn đi mót đồng làng.

Khi nao bờ sông lặng gió,

Chạy ù làm hớp rượu suông.


Dẫu biết bây giờ cũng khó

Đợi tôi đi nốt quãng đường.

20/9/2017

* Quán Văn: Nơi nhiều văn nghệ sĩ Hải Phòng lui tới, nhà thơ Thanh Tùng đã làm ở đó một thời gian.

 

Vĩnh biệt nhà thơ Thời hoa đỏ

Công Nam


Được tin tác giả của Thời hoa đỏ xa cõi thế, xa con đường phượng vĩ, xa những câu thơ ông đã hát cho bao thời đắm say, tôi lặng người chốc lát, và định thần, thế là từ nay những câu thơ ông viết về Hải Phòng dấu yêu sẽ mãi ở lại: “Trên bến bờ/ Người ra đi/ Biết mình yêu đến thế/ Thành phố dịu dàng trong sương ẩm ướt/ Những vết tường rêu phong xanh ngái ngủ/ Tiếng còi tàu mềm đi như nỗi nhớ…” và  “Tôi yêu dãy phố của tôi/ Cả hè đường xi măng cũ kỹ/ Mòn trơ khấp khễnh/ Vấp bật móng chân/ Những bếp chật thêm gần”.  Ôi, lòng ông mềm đi hay lòng người yêu thơ ông mềm? Dẫu thời tuổi trẻ của ông sẽ mãi  xa “Mười bảy tuổi tôi vào đời thợ/ Buổi làm đầu về/ Mẹ tôi run run ra chờ đầu ngõ/ Bữa cơm hôm ấy có thêm món xào cua bể”, nhưng thưa ông, tình yêu phố Cảng của ông sẽ lại thức giấc khi “Mỗi mùa hoa đỏ về”.

Biết rằng sinh tử là chuyện trời ban trời định, nhưng khi hay tin ông giã biệt cuộc đời này, tôi vẫn nghiêng mình mở bài Thời hoa đỏ nguyện vọng dưới chiều mưa tiễn ông:

Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết

Anh đâu buồn mà chỉ tiếc

Em không đi hết những ngày đắm say

... Sau bài hát rồi em cũng thế

Em của thời hoa đỏ ngày xưa

Sau bài hát rồi anh cũng thế

Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

Xin vĩnh biệt ông - Thời hoa đỏ - nhà thơ Thanh Tùng!

Hải Phòng, chiều mưa 13/9/2017

 

 

Chia tay anh một đoạn nhé, nhà thơ Thanh Tùng

Trần Thị Bảo Trân

(Đồng Nai)

 

Thanh Tùng ứng tác

Thanh Tùng ứng tác,

Con gà cục tác

Con gà cục tác...

Nó đẻ trứng vàng !

Văn nghệ là thế, gặp nhau để đọc thơ, để nghe thơ. Để chắp cánh cho cảm xúc bay mãi. Thương nhau lắm, càng khổ càng thương. Củ hành, đĩa dưa muối, bún đậu và rượu là bữa tiệc không bao giờ tan ở chiếu thơ của những nghệ sĩ, những đứa trẻ khổng lồ giữa cõi nhân gian này. Trời cho và trời cũng đày đọa, cho những câu chữ khi như cỏ mọc, khi bay bổng xuất thần, cho tâm hồn nhạy cảm và dễ yêu dễ khóc. Đày đọa để khổ mà không biết khổ, lang thang mà tưởng mình như kiếp chim du cư chỉ cần những giọt sương mai là đủ. Và dù ở đâu cũng không thể quên được nhau, quên được những phút giây đậu lại giữa chiếu đời.

Câu đùa ứng tác của Nguyễn Thị Hoài Thanh với Thanh Tùng vào một đêm sinh hoạt thơ của CLB thơ Cung Văn hóa hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng, trong một phút hưng phấn đã được bạn bè hưởng ứng bởi đó chính xác là anh, những câu thơ ứng tác của anh là Vàng, chất Vàng ấy mãi mãi ở lại trong lòng bè bạn yêu mến anh. Cuộc sống vốn khe khắt, anh lúng túng và ồ ề giữa những bề bộn của xã hội thời kỳ đổi mới. Nguyễn Thị Hoài Thanh và Thanh Tùng đều xuất thân là những người thợ, chỉ giỏi tay kìm tay búa mà không giỏi khi bị bỏ ra vỉa hè với những đưa đẩy đồng tiền bát gạo, những chua chát hơn thua. Có những lúc muốn vất hết lại mà chạy đến một nơi nào đó chỉ toàn nắng với thơ.

Vào cuối năm 1990, khi những người thợ cơ khí như họ không còn việc làm, cơ cấu xã hội thay đổi. Họ cũng đã ngoài năm mươi tuổi mới tập buôn bán. Nguyễn Thị Hoài Thanh ngồi nhờ nhà mẹ đẻ tôi bên phố Quang Trung, mua mấy chiếc bàn bi-da loại nhỏ cho thuê. Thanh Tùng thì ở bên vỉa hè phố Nguyễn Đức Cảnh bán đồ nhựa gia dụng. Họ chạy qua chạy lại rất gần vào những lúc ế hàng, hầu như vậy. Hôm đó cũng giáp Tết, Nguyễn Thị Hoài Thanh tranh thủ sang phố Tô Hiệu mua thêm bàn bi-da nhỏ về phục vụ Tết. Từ phố Quang Trung sang phố Tô Hiệu phải đi qua chỗ Thanh Tùng, bữa đó cận Tết nên cửa hàng đồ nhựa của Thanh Tùng đông khách. Thấy Hoài Thanh, Thanh Tùng vẫy vào, giới thiệu với một người khách đang ngồi trong bàn. Lần đầu Hoài Thanh gặp nhà thơ Tô Hà cũng là người gốc Hải Phòng về chơi. Thanh Tùng nhờ Hoài Thanh tiếp Tô Hà sau khi giới thiệu hai người với nhau, rồi lại chạy ra chạy vào bán hàng. Khách thấy chủ bận nên mấy lần đứng lên chào về, mỗi lần khách đứng lên là một lần chủ ấn hai tay vào vai ngồi xuống, thật lạ, cuối năm bận như thế phải nhờ người tiếp mà vẫn giữ bạn. Hoài Thanh thì cũng bận nhưng nể và thế là họ đành bỏ thơ ra tiếp nhau. Sau mỗi bài thơ Tô Hà đọc Hoài Thanh lại hút một điếu thuốc. Bình thường Hoài Thanh không hút. Hôm đó Tô Hà đọc mười bài, vậy là Hoài Thanh hút hết nửa bao thuốc. Hậu quả vụ thưởng thơ này Hoài Thanh bị viêm họng nặng, và có được một kỷ niệm về bè bạn. Nhà thơ Tô Hà mất sau đó ít lâu khi tuổi đời còn sung mãn.

Hoài Thanh bảo: Lần này tôi tiễn Thanh Tùng, anh ấy đi trước tôi một đoạn, như mới hôm qua anh về Long Khánh (Đồng Nai) thăm tôi, trước khi trở lại Tp Hồ Chí Minh anh dúi cho tôi 100 ngàn. Tôi hỏi làm gì có tiền mà cho? Anh nói, chỉ có ít thôi cứ cầm lấy.

Thật buồn thương vô hạn.

Tạm biệt anh, Hải Phòng chảy trong ngực anh và thơ anh chảy trong lồng ngực Hải Phòng. Chúng tôi cùng hòa vào dòng chảy ấy để thuộc nhau từng chút một./.

 

Nhớ nhà thơ Thời hoa đỏ  - Thanh Tùng

Những câu thơ đau đến thắt lòng...

 

Nguyễn Long Khánh

Tôi đã đọc chùm thơ của Thanh Tùng viết về nỗi nhớ “quê hương tội nghiệp” của anh mà lặng lẽ khóc... Tôi chưa gặp anh dù ở cùng thành phố. Ngày tôi đứng trong đội ngũ những người Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước làm đường ở Quảng Bình, tôi đã đọc bài thơ Thời hoa đỏ. Anh như nói hộ lớp người trai trẻ xa quê nỗi nhớ cháy bỏng về một thời tuyệt đẹp: Một thời chúng tôi đã sống, chiến đấu, yêu thương và hy vọng, xứng đáng là những chiến sĩ của Tổ quốc: Anh mải mê về một màu mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa sổ/ (...) Em hát một câu thơ ngày cũ/ Cái say mê của một thời thiếu nữ/ Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi.

Bài Thời hoa đỏ được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc trở thành khúc ca đồng hành kỳ diệu theo suốt chúng tôi trên nẻo đường chống Mỹ, lúc nào cũng say mê, đằm thắm, dịu dàng đến tận cùng: Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết/ Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say...

Từ ngày ấy, tôi đã cảm được tình yêu quê hương thật thủy chung ở anh. Nhà thơ - người thợ Thanh Tùng, anh mang cả sức xuân bằng đôi bàn tay thợ chai sần làm lụng, dựng xây thành phố của mình. Tôi được bạn bè thơ kể lại cuộc sống phóng khoáng, mặn chát vị muối biển của anh. Anh sống ồn ào, dữ dội, hết mình... ở đâu có anh là ở đó có những câu thơ ứng tác tài hoa, nóng rẫy như thép của thợ mới ra lò hệt ngọn gió Lào hầm hập đốt đi sự lạnh lùng, tẻ nhạt, tầm thường... Có lẽ vì cách sống bản năng, cả tin, hết mình ấy mà đời anh gặp không ít những chuyện buồn... (vì Cơm áo đâu đùa với khách thơ?). Anh phải xa Hải Phòng dù anh không muốn... Phải ra đi, xa cái thành phố ồn ào, bụi bặm mà người thợ Thanh Tùng đã dồn hết sức mình vào Tiếng búa khắc vào hồn phố, anh đã viết những câu thơ gan ruột đau đáu của mình, làm ai đọc cũng rơi lệ: Mai tôi đi rồi/ Tôi có khóc đâu mà gió ướt/ Mà nắng rát lên tôi mặn chát/ Mai tôi đi rồi/ Để lại đây tiếng búa khắc vào hồn phố/ Cùng mộng mơ lảng vảng cuối con đường/ Những giọt mồ hôi từng hát lên trong suốt/ Những lưng thợ đã bết mãi vào nhau/ Ngọn lửa kia đốt lên thời trai trẻ/ Bây giờ còn nóng trong tôi...

Dù anh đi đâu, làm gì, ở mãi cái thành phố phù hoa cách quê hương đến hơn nghìn cây số, trong cuộc sống hỗn tạp, xô bồ ấy anh vẫn nhớ về “Màu xanh của liễu bên hồ Tam Bạc” và vẫn cảm thấy như mình “vẫn chen chân trên đường Cầu Đất” với nỗi nhớ thủy chung như nhất hệt “Hoa bằng lăng tím đến dại khờ”...

Trong cuộc chiến vất vả đời thường, Thanh Tùng đã gặp nhiều thử thách đau đớn, thất bại để lại những vết thương tâm hồn ghê gớm tưởng chừng có thể giết chết tiếng thơ của anh, đã có lúc anh phải kêu lên: Ôi tới lúc sợi tơ cuối cùng không giữ nổi/ Và máu kia chết tím cả trời xanh/ Thu ra đi đôi cánh vàng rã rượi/ Nơi cuối trời khép lại một màu tang.

Anh như gục ngã, tuyệt vọng vì anh thấy: Và nàng thơ cũng ra đi/ Hồn xơ xác và máu ta loãng thếch. Thú thật, đọc bài thơ này tôi sợ thay cho anh vì nỗi thất vọng quá lớn đã làm “tàn cả một mùa thu” đã lấy đi “Hồn của anh cùng sương khói trần trụi ngập tràn”...

Nên ta thật mừng vui, sung sướng khi đọc bài Hy vọng, khi người thợ đất Cảng – Thanh Tùng vươn lên khẳng định ý chí của mình: Với riêng tôi không tuyệt vọng bao giờ/ Tôi nhóm lửa lên từ củi ướt/ Không có đất tôi tìm ra đất/ Đất hồn tôi nuôi xanh ứng lên sau bất hạnh/ Tôi gượng đứng lên, máu ngắt cây đời/ Tôi hồi sinh, tôi mãnh liệt/ Trong tôi cỏ lại mướt xanh rồi...

Anh đã chiến thắng khổ đau bằng bản lĩnh người thợ của mình, để tin tưởng và hy vọng vào cuộc sống, chiến thắng hoàn cảnh và tuổi tác của anh, câu thơ anh ngời ngời hy vọng:  Hy vọng phát ra từ muôn nhịp trống căng/ Từ tiếng búa tôi vang, từ lời thơ tôi cất/ Thành bao bông hoa tím nở bên đường.

Một khúc ca thật lạc quan, mang sức sống mãnh liệt ở nơi anh. Tôi xúc động vô cùng khi đọc bài Trở về anh viết khi trở lại thành phố yêu thương sau bao năm xa cách. Tình yêu thật giản dị, đằm thắm, sâu thẳm song lớn lao, nó làm ta đau đến thắt lòng khi đọc những câu thơ: Thành phố gầy như ngực mẹ tôi/ Tôi không dám mạnh chân sợ mặt đường long nhựa/ Không dám cả cười buông thả/ Sợ bao vết thương bom đạn vẫn chưa lành. Không ai có thể viết hay, xúc động như anh về cái giờ phút bắt gặp ánh mắt trẻ thơ (ánh mắt của thời hoa đỏ trai trẻ trong anh) câu thơ thật có “thần”: Những em gái thập thò sau khung cửa/ ánh mắt như màu rượu đã lâu ngày.

Chao ôi ! Tình yêu quê hương của anh mới kỳ vĩ làm sao? Chính tình yêu ấy đã làm anh nói ra điều hệ trọng với bao người cầm bút: Tất cả vẫn còn nguyên vẹn/ Để tôi về với thơ ngây/ Để tôi hiểu vì sao tôi có thể/ Bấy lâu nay viết được những vần thơ.

... Và anh trầm ngâm tự vượt qua “những nặng nề dĩ vãng”, “những buồn đau nhọc nhằn” của cuộc đời, anh lặng lẽ suy tư, ngước nhìn lên bầu trời bao la và đợi: Về đây trên bờ cỏ ngập/ Đợi chân trời thấp thoáng cánh buồm xưa.

Cảm ơn những nhà thơ xa quê như anh Thanh Tùng và chị Nguyễn Thị Hoài Thanh, dù ở đâu, làm gì, dù gặp những khó khăn, bất hạnh chua xót thế nào... các anh, các chị vẫn nhớ về thành phố bằng những bài thơ gan ruột rần rật máu chảy về tim, như nỗi đau muôn đời trần thế đến quặn lòng hệt bài thơ Chợ Cầu Rào mà Nguyễn Thị Hoài Thanh đã viết. Chính vì sự cảm nhận ấy mà bạn bè cầm bút, những người yêu thích thơ ở vùng biển này luôn mến yêu anh với cả tấm lòng. Anh đã làm được những điều thật đáng trân trọng cho “nơi chôn nhau, cắt rốn của mình”.

Anh Thanh Tùng thân kính ! Đừng bao giờ anh nghĩ “Mình lại còn mang danh là nhà thơ”, anh chính là Nhà thơ viết hoa, nhà thơ đích thực của cái thành phố “thời hoa đỏ”, gừng cay, muối mặn này mãi mãi? Anh hãy tin như thế ! Nhà thơ - người thợ Thanh Tùng./.

 
Đời thợ, đời thơ Nguyễn Đình Di

Nguyễn Long

Nguyễn Đình Di làm thơ từ ngày là học sinh lớp 7G trường cấp II Trần Phú, chàng trai người đậm, chắc, có đôi mắt to mơ mộng thỉnh thoảng có bài văn hay được đọc làm mẫu môn Ngữ Văn. Chúng tôi cùng học thày dạy văn Đỗ Công Đắc, từ ngày ấy Di đã yêu thơ, còn tôi thích tiểu thuyết, đam mê điện ảnh. Những buổi tối chúng tôi đi uống trà, cà phê ở những quán nhỏ ở phố Lãn Ông bình luận, tranh cãi về những quyển sách vừa đọc đến tận 11-12 giờ đêm… Tôi tiễn Di về nhà ở phố Đình Đông, chuyện chưa hết Di lại tiễn ngược tôi về nhà ở cạnh Hồ Sen Từ Vũ. Ôi , những câu chuyện mộng mơ, tuổi ô mai ấy đã thắp lên những mơ ước: Di sẽ trở thành  nhà thơ, còn tôi sẽ thành một nhà văn cống hiến cho đời những tác phẩm  của mình. Những mơ ước có vẻ viển vông nhưng trong sáng tuyệt vời…

Rồi chúng tôi lớn lên, từ giã mái trường khi đang học cấp III, Di làm thợ sắt ở một công trường, tôi làm công nhân Xí nghiệp gỗ 6/1. 18 tuổi, chúng tôi tràn đầy tình yêu trách nhiệm,  khát vọng nghĩa vụ công dân với đất nước. Khi giặc Mĩ gây ra cuộc chiến tranh phá hoại , Đảng ra lời kêu gọi tuổi trẻ lên đường bảo vệ Tổ quốc, giải phóng miền Nam, hai chúng tôi  quyết tâm xin tham gia quân đội. Nhưng cả hai đứa đều là con trai một, theo chính sách không được vào quân đội, chỉ còn một cách là tình nguyện vào đội thanh niên xung phong (TNXP) chống Mĩ mở đường Trường Sơn, lên đường vào ngày 9/7/1965.

Những năm tháng  sống, chiến đấu làm việc trong đội ngũ những chiến sĩ TNXP  mở tuyến đường 22 ở Hà Tĩnh – Quảng Bình ác liệt là những ngày đẹp nhất như ngọc sáng giữa biển đời,  là một thời để yêu, một đời để nhớ giúp chúng tôi được tôi luyện, trưởng thành, sống lí tưởng, dũng cảm, trong sáng, xứng đáng hơn với Tổ quốc ... Ban đêm chúng tôi ra tuyến làm đường, xẻ ta luy, chở đá làm đập tràn qua suối, để những đoàn xe chở lương thực, súng đạn vào Nam. Tuổi 18, 20 thật tự hào như những bài thơ Nguyễn Đình Di viết được chép trong  sổ tay  đồng đội: Em ra đi chưa tròn mười sáu tuổi/ Nghĩ gì khi đó em gái anh/ Có phải cây non uống phù sa Tổ quốc/ Xuân chưa sang hoa đã rực trên cành/ Có nhớ không em lá đơn tình nguyện/ Nét máu đỏ tươi xao xuyến trái tim người/ Chưa hết tuổi thơ em đã là chiến sĩ/ Phút Đảng cần: không do dự có tôi… (Em gái tôi)

Những năm tháng hành quân mở đường ấy, các đơn vị TNXP đóng quân ở đâu cũng được các mẹ, các chị, các o ở Hà Tĩnh, Quảng Bình đùm bọc. Di viết bài “Nhớ về Sơn Tiến” nơi C802 chúng tôi đóng quân. Bài thơ được ghi lại trong sổ truyền thống Nhà lưu niệm xã Sơn Tiến huyện Hương Sơn: Trên cánh đồng hoài niệm của đời tôi/ Thửa ruộng thờ có tên là Sơn Tiến/ Mười tám tuổi tôi giã từ quê biển/ Neo đầu đời vùi đáy cát Sông La/ Buổi đầu đời hồn chưa trải xót xa/ Con đã khóc dưới mái nhà của mẹ/ Nhánh xương rồng trộn hành khô muối bể/ Mẹ dịt vết đau con mát dịu tận bây giờ.

Và không thể quên ngày chia xa  ai cũng nhớ: Dằng dặc quãng đời, dằng dặc nắng mưa/ Canh cánh nỗi chưa về cùng cha mẹ/ Con đần dại mà cuộc đời dâu bể/ Ba mươi năm rồi/ Chưa về được mẹ ơi?

Bài thơ có sức lay động diệu kỳ với các chiến sĩ mở đường Trường Sơn. Nguyễn Đình Di kể: Sau 30 năm từ Hải Phòng anh trở lại thăm Sơn Tiến. Khi đến trước cửa nhà mẹ Mãn nơi anh ở, nghe tiếng Di, câu đầu tiên mẹ hỏi : “Di đấy à? Sao lâu thế mới về hở con?” làm anh òa khóc. Những bài thơ Di viết về đồng đội trong những năm tháng mở đường ác liệt ở Trường Sơn: là những khúc ca về chiến công, về hạnh phúc và cả những  đau đớn, mất mát của tuổi trẻ khát khao dâng hiến ... Đó là những bài thơ hay  trong những năm tháng chiến tranh … Bài “Hoa trặc trìu” viết về tình yêu đằm thắm,  nỗi mê đắm của tuổi trẻ mở đường: Hoa trặc trìu ơi/ Hoa thời mười tám tuổi/ Trắng miên man, nơi đá sỏi đất cằn/ Hương dịu ngát như tiếng cười con gái/ Dây nâu mềm lan buộc lấy hồn anh/ … Hoa trặc trìu líu díu dưới trời xanh/ Nụ cười dụi vào hoa, phấn thơm vàng áo lính/ Bọm nổ xô em đắm miền cô tĩnh/ Để hoa trặc trìu nồng lặn đến hôm nay.

Và những phút hiếm hoi của tình yêu trong chiến tranh mới đẹp làm sao: Em lại dẫn anh về bên suối/ Về miền thơ thao thức của đời mình/ Hoa ngời ngợi giữa đôi bờ lá nõn/ Mắt ai nhìn khoảng lặng chiến tranh.

Có những nỗi đau đớn theo ta suốt đời khi nhớ lại những đồng đội đã nằm lại trên  tuyến đường Trường Sơn: Tôi nghe bạn mình dưới mộ/ Lặng lẽ ru những thao thức cõi người/ … Tiếng đồng đội mình trẻ mãi tuổi hai mươi/ Ngôi mộ vọng cuộc đời neo hồn lại/ Trong đất đá bạn dắt câu thơ tôi vụng dại/ Mở tuyến vượt mong manh/ Khoảng giữa đất và trời (Trường ca Lộ trình)

Cuối năm 1967 Nguyễn Đình Di xung phong vào đơn vị bảo vệ con đường  ngã ba tử thần tuyến Trường Sơn – Quảng Bình, nơi phà Long Đại được gọi là phà Long Đầu, ngã ba Dân Chủ thành ngã ba Âm Phủ, nơi bom Mĩ trút bom  thiêu rụi những vạt rừng, đá núi thành bụi đất… Nhà thơ đã giáp mặt với cái chết từng giờ, ngày đêm anh lăn lộn đảm bảo giữ con đường dưới những trận mưa bom cho những đoàn xe  nối nhau vận tải vũ khí, lương thực tới chiến trường. Giữa khói lửa đạn bom ấy, Nguyễn Đình Di  ghi lại: Nơi này/ Giặc thả bom toạ độ/ Cỏ ở đỉnh đèo đã bao lần khô úa/ Cây ở lưng đèo gẫy tướp cháy đen/ Đá ở chân đèo nát tan thành cát/ Thế mà chúng tôi trụ được/ Những hầm hào chui vào vách ta luy/ Dứt một loạt bom lại nghe ai hát ?/ Chúng tôi bảo dưỡng cổng trời/ Vá những vết thương/ Để con đường lành lại … (Trường ca “Lộ trình”)

Năm 1968 hoàn thành nghĩa vụ TNXP , chúng tôi trở về quê hương, lại hối hả lao vào công việc xây dựng, bảo vệ thành phố. Nguyễn Đình Di lại tiếp tục công việc người thợ ở Công ty xây dựng. Đó là những ngày thật khó khăn. Di đã lập gia đình, có con gái đầu lòng. Hai vợ chồng đều làm thợ, anh thợ sắt, còn Bé – vợ anh làm thợ sơn vỏ tàu. Cực nhọc, gian truân biết mấy cuộc đời  người thợ: Những tháng ngày đã im ắng đạn bom/ Thợ vào ca với mẩu bánh mì bằng nắm tay cứng như xác gỗ/ Gió lùa buốt xương ống chân khi đứng trên cao/ Muối cộp trắng lưng áo thợ/ Buột một tiếng thở dài.

Và nỗi đau âm thầm, bỏng rát của người thợ: Bao lớp chai bong như rêu đá/ Những năm tháng thiếu nghèo/ Con quặt quẹo/ Vợ còm nhom/ Mặt gầy guộc/ Có buổi ngồi bên sông nước/ Thấy những vạt bèo tím hoa trôi ra biển/ Thèm một cánh buồm hồng đón phía cửa sông.

Nhưng  bản lĩnh, khát vọng sống của người thợ  mãnh liệt biết chừng nào: Tôi vắt chiếc áo thợ lên vai/ Lại giống bố làm người không biết sợ/ Hơn bốn mươi năm làm thợ/ Đi qua sóng gió cuộc đời.

Đời thợ gian lao làm thơ anh ngày càng điềm tĩnh, sâu lắng, chân thực hơn. Những bài thơ anh viết thật đằm thắm, dung dị như tình yêu người thợ tặng vợ mình: Em đừng đẩy bàn tay chai ra/ Khi anh vuốt ve em bằng bàn tay thô ráp này/ Thì trong mỗi ngón tay anh/ Có một trái tim đang dịu dàng nói/ Em hãy để những nốt chai của ban ngày dầm dãi/ Được nghỉ ngơi trên vùng da ấm mịn của em… (Nói hộ bàn tay chai)

Anh viết về tình yêu  của mẹ: Con chí chát búa đe lời của thợ/ Giọt mồ hôi cứ ngỡ đủ bảy màu/ Mẹ rau cháo suốt tháng ngày ròng rã/ Dìu cánh cò bay trắng những lặng chia/ Trong nhà thợ, mẹ hình như không ngủ/ Tóc bạc canh gà giữ lửa qua đêm/ Mẹ lầm lũi nhặt từng hòn than sót/ Sáng mai ngày con nhận thổi bùng lên… (Mẹ của thợ)

Những năm tháng gian khổ, Nguyễn Đình Di đã trải qua những thử thách, mất mát của đời mình: con trai mất, người bố kính yêu, chỗ dựa vững chắc về tinh thần cũng ra đi. Hai vợ chồng cùng hai con gái nhỏ phải vượt qua bao giông gió cuộc đời... Nhưng Nguyễn Đình Di đã  vượt lên bằng bản lĩnh người thợ của mình. Anh  sống và viết, các tập thơ lần lượt ra đời: “Giấc mơ cây”(2001), “Cỏ khát” (2006); Trường ca “Lộ trình” (2008); “Tín chấp” (2011) và “Vườn gió mặn” (2015) .

Tập thơ “Cỏ khát” có những bài thơ hay viết về gia đình, bè bạn, về những kỉ niệm thời TNXP được người đọc yêu mến, chia sẻ vì sự chân thực, xúc động với những cảm xúc trong sáng, thiết tha như các bài: Mẹ của thợ, Khúc tưởng niệm, Hoa trặc trìu, Nhớ về Sơn Tiến, Tấm huân chương của mẹ, Bên suối cũ... Bài Câu cá mùa thu… có những câu thơ  thật khó quên: Lững lờ cá đẩy mây trôi/ Chim sà tha bóng mình rồi vụt bay/ Người thu khoác nắng cuối ngày/ Buông cần sông mấy ngón gầy ngủ quên.

Hay, lạ là  những câu thơ chấm phá ấn tượng: Mưa rừng ngập mặn bung hoa/ Con ong khát mật còn ta khát người/ Lơ phơ những nhánh lau gầy/ Hồn quê cùng với người say cạn chiều.

Năm 2008, Nguyễn Đình Di hoàn thành trường ca “Lộ trình” gồm 18 khúc một bản anh hùng ca về những người TNXP tình nguyện đi dọc đường đất nước bằng tình yêu, nỗi khát khao được cháy hết mình hiến dâng cho đất nước. Trường ca với những khúc hát lãng mạn, bay bổng của tuổi trẻ chống Mĩ đã hi sinh những gì tốt đẹp nhất của đời mình, mở những con đường dẫn tới chiến thắng: nói được niềm tin, khát vọng của tuổi trẻ trong lộ trình đi tới. Những khúc ca  mới đẹp, trữ tình làm sao khi Nguyễn Đình Di viết về tình đồng đội, tình yêu với những mê đắm thiêng liêng: Em còn nhớ tiếng sóng của rừng không/ Cơn sóng vỗ vào hai ta xoá nhẵn những nếp nhăn đói cơm khát nước/ Sóng nổi lửa nhuộm hồng làn da xanh lét/ Sưởi ấm cơn rét rừng/ Sóng gọi gió căng phồng cánh buồm mộng ước/ Chở ta bay lên vầng trăng trong mát/ Mây dưới mình êm quá dịu dàng trôi.

Khúc IX “Nương trăng” viết về tình yêu đôi lứa trong chiến tranh là những câu thơ hay  sâu lắng, xúc động  nhận được sự đồng cảm, chia sẻ trong tâm tưởng mỗi người: Lặn vào kí ức tôi/ Làn hương trinh nữ của da thịt em/ Từ cánh võng,  tôi bật chạy đến em/ Như con ong được hương hoa dẫn dụ/ Đến nơi ta hẹn nhau qua ánh mắt ban chiều/ Góc nương ấy khói bom còn khét cháy/ Đêm trăng này chỉ có hai ta.

Và thật đẹp tình yêu  trong lửa bom ác liệt: Trên nương trăng này ta đã khóc khi nhận của nhau/ Giọt mồ hôi thơm lừng rịn ra từ da non mềm mại/ Hương loài hoa không tên thảng thốt kết trái/ Trong tiếng đôi công tố hộ/ Trong tiếng hoẵng kêu sương giữa mùa cưới nghẹn ngào.

Trường ca “Lộ trình” của Nguyễn Đình Di  được tặng giải Ba  cuộc thi thơ 5 năm (2004 – 2009) về đề tài lực lượng vũ trang của Bộ Quốc phòng.

Nguyễn Đình Di in tập “Tín chấp ” khi nhà thơ 63 tuổi. Một tập thơ buồn,  suy nghĩ về tâm linh, triết lý sống, về kí ức, về những cơn say rất tỉnh của mình. Anh nhớ về đồng đội, về những người mẹ, người chị ở Sơn Tiến nơi đóng quân xưa và những bè bạn, người thân... Một tập thơ nhân văn, giàu cảm xúc, chân thành. Có những bài thơ thật giản dị, xúc động như khi anh viết về nỗi nhớ người bố kính yêu của mình: Biển xa xanh/ Nơi hai bố con hẹn ước mà không đến được/ Ngày bố ra biển một mình/ Sóng bạc đầu ngoài cửa sông/Những cánh lục bình lềnh bềnh trôi/ Biển cười/ Người khóc (Biển một mình)

Anh nhớ về tình yêu bao la của mẹ: Tôi ra trận mẹ chờ bên bếp lửa/ Mẹ thức giấc che không giọt mưa nào hắt vào ngọn đèn nến trên bàn thờ tổ/ Không giọt nước mắt nào vào giấc ngủ của tôi/ Suốt một thời đạn nổ bom rơi/ Trong bếp nhà tôi mẹ cời mẹ ủ/ Ngày con về ngọn lửa reo vui (Cơn mưa và ngọn lửa)

Anh nhớ về đồng đội đã hy sinh: Say nằm trên đá uống trăng/Đồng đội bao thằng chết trẻ/ Tao xin chúng mày về nhé/ Để tao đỡ sợ trăng rằm

Trong “Tín chấp”, thơ anh đã ít nhiều phản ảnh thực trạng xã hội, chia sẻ nỗi đắng cay với người dân lao động, những đứa trẻ nghèo ở vùng núi xa xôi. Những bài thơ: Làng trong phố, Nỗi nhớ mùa đông, Bài thơ nhờ đồng đội đặt tên, Rượu lạnh, Nói với mình, Đáy sâu, Phố hoang, Tuổi buồn, Chợt phố, Khúc ngẫm ngợi, Trong lễ cưới con đồng đội, Tự biết, Cơn mưa và ngọn lửa… đã giãi bày tâm sự của nhà thơ với cuộc sống vào lúc tuổi xế chiều: Mình giờ thành ông vớ vẩn/ Ngẩn ngơ mơ phố nhớ rừng/ Ngại nói lười đi sợ việc/ Gió chiều râu tóc rối tung.

Và nhìn trong gương đã thấy: Tóc bạc/ Râu bạc/ Trong gương cách nhìn bàng bạc

Giờ chỉ muốn được bình yên trong ngôi nhà nhỏ của mình: Làm người đàn ông tử tế giữ ngọn lửa ấm trong nhà/ Đã là niềm vui lớn.

Trong những cơn say rất tỉnh của nhà thơ, niềm tin được tín chấp cho bạn bè, cho cõi người, cho đất nước vẫn là niềm tin sắt son, lương thiện, chân thành của một người thợ tin ở đôi bàn tay, tấm lòng nhân hậu , bản lĩnh của mình: Có thể sau một tuần rượu thế này/ Lao vào luồng gió đầy cát/ Thấy ngọt lịm ở đầu lưỡi/ Ngỡ tiêu tan những đắng chát của đời/ Thế là có câu thơ đẹp nhất/ Gửi vầng trăng

Bài thơ lục bát “Lãng du” như một khúc tự hát về đời thợ - đời thơ của Nguyễn Đình Di: Ta xin được của dòng sông/ Chút xanh trăng biếc, chút hồng phù sa/ Ta vay được của bao la/ Cánh chim gió bạt, mây và rượu êm/ Trái tim ngợp thở ở miền/ Gái ngoan quên áo làm tin rủ mình/ Mượn thơ khoét trúc bên đình/ Vi vu thổi khúc ân tình cậy trao/ Lậy giời cuối tiết hanh hao/ Có cơn gió chướng nhập vào Nào đi.

Tập thơ “Vườn gió mặn” in cuối năm 2015  ở tuổi “tri thiên mệnh” khi  nhà thơ gặp những thử thách cam go về bệnh tật. Trong tập thơ có những chiêm nghiệm tâm linh mang triết lý của nhà Phật nhân ái,.bao dung… để con người sống với nhau nhân ái, tốt đẹp hơn.

“Vườn gió mặn” có bài thơ làm tim ta nghẹn lại khi đọc như bài thơ anh tự hoạ mình: Mặt mình nửa lạ, nửa quen/ Tóc râu xơ xác lạc miền hoang xa/ Lơ ngơ mỏi xứ sương mù/ Mơ hồ ai đấy hỏi từ nẻo xa/ Phần thành tro? Phần làm hoa ?/ Câu thơ làn khói la đà chiều hôm/ Chút mơ mộng gửi cánh buồm/ Chút ăn năn bón xuống vườn nhờ cây/ Mai ngày níu gió qua đây/ Nhớ nghiêng chén rượu cùng say với mình (Tự hoạ buồn)

Trong “Vườn gió mặn” có những bài thơ thật hay về ý tứ, câu chữ,  đậm tình người, tình đời sâu lắng. Các bài: Trái tim trần, Tấm huân chương của mẹ, Cây bàng phố, phố mùa đông, Tản mạn tuổi sáu mươi, Quãng vắng, Bình yên dưới mái nhà, Thơ tình tuổi mùa đông, Hát ru mùa đông, Thưa giọt mồ hôi, Tự hoạ buồn, Lẩn thẩn với mình, Chùm thơ ngắn hai câu… đó là những điều tri ân, tri kỉ, những bài học về tình yêu gia đình, bè bạn, nhà thơ gửi lại cuộc đời....

Thơ Nguyễn Đình Di trước những cảnh đời đau đớn, đổi thay của xã hội còn thiếu sự quyết liệt, phản biện mạnh mẽ… Thường thơ anh chỉ là lời trách cứ nhẹ nhàng, sự rung cảm tinh tế, trữ tình bay bổng, những chiêm nghiệm tâm linh sâu sắc… nên anh có những độc giả riêng của mình.

Về cuối đời mình anh ao ước: Bây giờ những muốn làm người Pa Dí/ Hắt đắng chát xuống vườn tri kỷ với cây/ Cạn ngày nghiêng chai lai rai thơ gió (Thế thôi)

Thơ Nguyễn Đình Di đã đơm hoa kết trái. Thơ anh tinh tế, trong sáng, dịu dàng với ngôn từ chọn lọc , dân tộc mà hiện đại, với nhiều liên tưởng, ẩn dụ, cách điệu, nhiều hình ảnh ấn tượng, độc đáo… mang âm hưởng của  dân ca đồng nội,  lời ru của mẹ, tiếng hát của dòng sông và cả âm thành cuồng nộ của bom đạn, của núi rừng Trường Sơn, mang đậm tình yêu thương con người,  tình yêu thiêng liêng với Tổ quốc, … Có lẽ vì thế mà đời anh  buồn nhiều hơn vui, anh đi trong đời như một thi sĩ say hát những khúc du ca  tặng cuộc đời.

Và thơ anh reo ca mãi mãi: Đời thơ mỗi ngày như cây đàn và gió đã rung lên.

 

 
Nhà thơ, bác sĩ Nguyễn Thanh Tuyên

 

 
Mối rung cảm từ hiện thực cuộc sống

Về một người mẹ, về một người con và dòng sông Trà Lý” là tập thơ của nhà thơ Kim Chuông (NXB Hội Nhà văn, tháng 2/2017). Với 54 bài thơ dài ngắn viết về hình ảnh cao đẹp, sự hy sinh thầm lặng, cao cả của người mẹ- người vợ- người lính từ quê hương đến chiến trường trận mạc. Là người từng mặc áo lính, làm phóng viên mặt trận ở một tờ báo Quân khu, bằng cảm rung chân thực, nhà thơ - người lính Kim Chuông đã truyền tới tâm hồn người đọc sống động hình ảnh “người mẹ”, “người lính”, “ người vợ” chịu nhiều hy sinh mất mát cho dân tộc ở một thời đánh giặc và dựng xây đất nước. Lời đề từ “Làng quê nào chả từ một dòng sông bồi đắp/ trái cây nào chả chín lên từ mao mạch đất” là điểm sáng của triết lý nhân sinh mà Kim Chuông muốn lấy đó làm cái trục, xoay quanh những gì về “con người”,“cuộc đời” trước nhiều mối liên quan ràng buộc.

Đi giữa thời chiến tranh, trận mạc, vì quê hương, đất nước, người “Mẹ thấy thân thể xẻ đôi/  Gửi vào người con tới những phương trời bừng bừng lửa cháy” Rồi, “Mẹ nối góc sân nhà với đất nước trăm miền qua những bước chân con”( Người mẹ). Phải nói, bằng những hình ảnh cô đọng, Kim Chuông đã khai thác tới tận đáy nỗi đau trái tim người mẹ, khi mẹ sẵn sàng tiễn những đứa con “ rứt ruột đẻ đau” gửi vào mặt trận với lý tưởng lớn lao là đánh giặc, bảo vệ quê hương, Tổ quốc trường tồn.

Xuyên suốt hình tượng “Người mẹ”, “Người con” là nghệ thuật tái tạo và sáng tạo những cảnh huống, những tâm trạng nỗi niềm, những nghĩ suy, chiêm nghiệm. Làm nổi bật giá trị phản ánh, với một phía là giá trị phát hiện, kiến giải mang chiều sâu, được kết tinh trong những câu thơ thật điển hình và gợi : “Với mẹ - Con không còn hoàn toàn là một đứa con riêng. Khi ngọn rau khoai lang mẹ hái ven đê sông Trà/ hạt lúa gieo trên đồng Dô, đồng Khuốc…cũng là của Việt Nam giành được/ thì chúng ta là những tế bào/ Đất nước - Con người là cơ thể lớn lao”( Người con). Với Người lính, người con trai, thì: “Đất nước có nỗi đau lâu dài nhất - Chiến tranh!/ Nên cuộc đời anh có mảnh đời chiến sĩ/ anh hy sinh một phần cơ thể/ lẽ đương nhiên là thế/ khi anh hiểu giá từng thước đất quê nhà đi qua tọa độ bom”. Bởi vậy mà “ Khẩu súng của anh tì vào hướng nào/ cũng giống như đang tựa vào sông Trà, tựa vào cây đa làng thân thuộc”( Độc thoại của một người thương binh về làng quê yêu dấu).

Có thể nói, bài thơ “Độc thoại của một người thương binh về làng quê yêu dấu” với bài thơ dài mang tên tập thơ, cùng trên 50 bài thơ khác được tập hợp, chọn lựa đã thực sự làm nên dòng chảy vọng vang và xoáy xiết, gây ấn tượng và ám ảnh khá mạnh về cuộc chiến anh dũng của dân tộc, về những người mẹ, người vợ, người lính, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của đất nước, quê hương “một thời đánh giặc”.

Bằng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách khai thác khác nhau, mỗi bài thơ trước đề tài được tập trung, ngỡ như “bất biến”, nhưng Kim Chuông đã thể hiện khá thành công khả năng tung hoành, “văng xa” tạo nên sự phong phú, sinh động ở hiện thực rộng lớn, ở thi liệu, ở cảm xúc, ở “tứ thơ”, ở sức lay động, tạo nên vệt loang thấm chảy dài. Có thể nhìn khá rõ ở nhiều bài thơ hay, câu thơ hay, khi người viết đã điển hình hóa, khái quát hóa. Tác giả viết về một người vợ liệt sĩ dệt thảm dày xuất khẩu: “Tám ngàn nút mỗi ngày em buộc/ Đâu buổi chiều tin sét đánh – Người xa/ Ngàn tiếng nổ nén dồn trong nút buộc/ Ngàn chiến trường thương tích giữa hồn ta” (Bàn tay em buộc). Viết tặng “Mẹ Việt Nam anh hùng”: “Một đời thờ chồng/ Côi quạnh thời son/ Bốn nấm mộ trong lòng vùi sâu khuất/ Có người mẹ cả một đời là mất/ Chỉ cái còn nằm ở dáng quê hương”

Từ hình ảnh núi Voi nơi mảnh đất đi qua hai cuộc chiến: “Núi Voi đó đã hàng nghìn trận đánh/ Thật khó tin ở giữa động hang này/ Bóng người lính vời cao hơn núi/ Còn trường tồn trong tia nắng, chùm mây” (Núi Voi) đến mỗi mảnh đất, mỗi làng quê anh hùng :“Đây lối bến trông theo/ Những chuyến đò xuôi ngược/ Một thưở bao cuộc đời/ Còn chưa lên bờ được/ Còn bom vùi mười lượt/ Làng cháy trong tro tàn/ Mười mẹ già góa bụa/ Sông mười lần máu loang”

Trên cái nền của cuộc chiến tranh cách mạng, khi trực tiếp, thơ Kim Chuông viết nhiều về người lính, người thương binh, người anh hùng, liệt sĩ khi gián tiếp, khi tự sự hay có thể tìm một cách biểu cảm, đồng hiện nào khác. Những bài thơ với cảm rung chân thành, tâm huyết. Những câu thơ với những lấp lánh của chi tiết, ảnh hình, của sự bất ngờ trong phát hiện, kiến giải. Thơ vươn tới giá trị đích thực và hữu ích, tạo sự đồng cảm, sẻ chia trước tháng năm, đời sống, với cảm quan lớn, với xã hội - con người.

Đời người cầm bút, với gần 30 tập sách đã xuất bản, đây là tập thơ thứ 20 của nhà thơ Kim Chuông, tác phẩm vừa được trao giải Ba trong cuộc vận động 70 năm viết về đề tài Thương binh liệt sĩ do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng. Thêm một lần khẳng định thành công của Kim Chuông trên con đường lao động sáng tạo nghệ thuật./.

Cù Thị Thương

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)