Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 19 khách Trực tuyến
Chân dung


Nghệ sĩ ưu tú múa rối Thế Ban

 
Nhạc sĩ, ca sĩ Gia Hải

 

 
Nhạc sĩ Phạm Văn Hanh

 

 
Nhớ một “nhà thơ xi măng”

Nhà thơ TRẦN VIÊM, tên thật Trần Đình Viêm, sinh ngày 2/10/1948 tại X. Tam Thanh, H. Vụ Bản, T. Nam Định. Trú quán: 105 Kiến Thiết, tổ 15, P. Sở Dầu, Q. Hồng Bàng,TP. Hải Phòng. Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng. Do mắc bệnh hiểm nghèo, đã từ trần hồi 15 giờ 40 phút ngày 13/3/2018 (tức 26 tháng 1 năm Mậu Tuất), hưởng thọ 71 tuổi.

Tốt nghiệp trường Trung cấp kỹ thuật hóa chất Lâm Thao, Phú Thọ năm 1968, Trần Viêm về công tác tại Nhà máy Xi măng Hải Phòng, làm Kỹ thuật viên tại các phân xưởng, Phòng kỹ thuật cơ điện, Phòng kỹ thuật an toàn.

Ông yêu thơ và làm thơ từ hồi học phổ thông và trung học chuyên nghiệp. Khi làm việc tại Nhà máy Xi măng Hải Phòng, Trần Viêm tích cực xây dựng phong trào thơ công nhân xi măng. Thơ của Trần Viêm xuất hiện đều hơn trên Tạp chí Cửa Biển và các báo, tạp chí địa phương, trung ương. 22 tuổi Trần Viêm được kết nạp hội viên thơ Hội VHNT Hải Phòng; 61 tuổi mới xuất bản tập thơ đầu tay Lục bát tình yêu (NXB Hải Phòng); 6 năm sau xuất bản tập thơ thứ 2 Ảo thuật bóng hình thơ (NXB Lao động). Đây cũng là tập thơ cuối cùng của đời thợ, đời thơ công nhân Trần Viêm. Tại Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng lần thứ VIII (2015-2020), Trần Viêm vinh dự được nhận Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam.

Hội Liên hiệp VHNT, Tạp chí Cửa Biển và Hội Nhà văn Hải Phòng xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình nhà thơ TRẦN VIÊM.

 

Nhớ một “nhà thơ xi măng”

LƯƠNG VĂN CHI

Nhà thơ Trần Viêm là công nhân Nhà máy Xi măng Hải Phòng từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước. Đây là lá cờ đầu trong phong trào lao động sản xuất, là đầu tầu gương mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cũng là cái nôi sản sinh ra các văn nghệ sĩ có tên tuổi sau này như nhà biên kịch điện ảnh Nguyễn Hoàng (tác giả phim Khói trắng), nhà văn Trần Tự, Xuân Hồng nhà viết kịch Vũ Ngọc Doãn An, Mạnh Thu... Và nhà thơ Trần Viêm là một trong số đó.

Tôi quen và thân với Trần Viêm từ tháng 5/1985 vào ngày Đại hội Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng tổ chức tại Nhà hát lớn thành phố. Giờ giải lao, ngồi ở hành lang hút thuốc, chúng tôi gặp nhau. Biết tôi cũng ở phường Trại Chuối, anh kéo tôi về nhà chơi. Đó là một gian tập thể của Nhà máy Xi măng. Anh đẩy cửa, dắt chiếc xe đạp tồng tộc vào nhà, gọi vợ toáng lên: “Mình ơi, có khách văn thăm nhà”. Tôi nhìn lại mình, nhìn anh, ôi hai thân thể xanh xao, hai bộ đồ đơn sơ, mà lại là “khách văn”! Mấy chục năm rồi tôi đã viết và đến chơi nhiều nhà bạn văn, nhưng cái ngữ điệu âm vang đầy sang trọng trong giọng nói tự hào của anh hôm ấy vẫn luôn vang trong tâm trí tôi, không quên được, không gặp lại được.

Từ đấy anh và tôi trở thành bạn văn thân thiết. Tính anh xuề xòa, không để bụng và phàn nàn bất cứ ai trước một câu nói khen chê nào, còn tôi thì hay bông phèng, có khi bỏ cả chữ “anh” trước tên Viêm, anh cũng chẳng giận, mặc dù anh hơn tôi đến 7 tuổi.

Anh viết không đều, lúc viết lúc bỏ. Có thể do hoàn cảnh, mấy chục năm không bật lên được về kinh tế, điều đó kéo chìm theo cả những khoáng hoạt về giao tiếp, về văn chương, thành thử dù là hội viên từ năm 1970, nhưng ít người biết tiếng, biết thơ anh.

Những năm chiến tranh phá hoại, mà đỉnh điểm là chiến dịch dùng máy bay B52 rải thảm Hà Nội, Hải Phòng của đế quốc Mỹ, Hải Phòng đổ nát và đau thương vì kẻ thù muốn đưa chúng ta trở lại thời đồ đá. Lòng căm hận sục sôi, nhiệt huyết dâng trào, đứng trước lò nung xi măng, nơi nhiệt độ tới hàng nghìn độ, Trần Viêm đã thốt lên trong một bài thơ: “Lửa trong lò hay chính lửa tim anh...”

Năm 1975 hòa bình được lập lại, đất nước thống nhất. Câu thơ anh đã xanh thắm lại:

Nơi trập trùng nơi cánh chim bay

Màu đá đượm màu xanh nguyên thủy

Vách núi dựng tường thành chiến lũy

Bốn nghìn năm ôm bóng Bạch Đằng

Những năm sau này, thơ anh lắng lại. Anh loay hoay tìm hướng đi cho thơ mình trước những trào lưu và phong cách của thơ cách tân, thơ trẻ, thậm chí thơ thị trường. Chỉ tới khi nghỉ hưu, anh về Vụ Bản, Nam Định, hòa mình với bạn bè, anh em, bà con nơi anh sinh ra và sống cả thời thơ ấu, lúc này hồn thơ anh như được thăng hoa. Chỉ sau ba năm, với uy tín và danh nghĩa nhà thơ đất Cảng, anh cùng anh chị em làm thơ ở huyện Vụ Bản và tỉnh Nam Định đã họp lại và ra mắt tập sau “Nắng gió non Gôi” 3tháng/kỳ, giới thiệu những sáng tác của anh em trong CLB thơ mà anh là biên tập chính.

Một lần tôi nhẩy ô tô khách từ Hải Phòng vào Vụ Bản, chơi với anh hai ngày. Chiều đến, bằng giọng bỗ bã, tôi hỏi anh:

- Từ ngày về quê đến giờ, ông đã đi Tràng An, Bái Đính hay nhà thờ đá Phát Diệm chưa?

- Tiền đâu mà đi! – Trần Viêm trả lời ráo hoảnh.

Anh nói đúng. Lương hưu triệu tám, anh giữ một nửa, chi tiêu cuộc sống bản thân, có đâu dư dật mà đi đây đó.

Tôi quyết định:

- Mai ta đi tham quan nhà thờ đá Phát Diệm.

Thấy anh có vẻ ngần ngại, tôi trấn an:

- Ăn, uống, ngủ nghỉ, xăng xe tôi lo

Chúng tôi lên đường bằng chiếc xe máy Tàu của anh từ hồi đi làm ở Nhà máy Xi măng. Chiếc xe bám đầy bụi do ít sử dụng lại hụt hơi. Quốc lộ bằng phẳng là thế, gài số 2 kéo hết ga cũng chỉ chạy được trên dưới 20km/giờ. Gặp dốc cầu, thậm chí dốc cống, gài số 1 rồi mà tôi còn phải nhảy xuống, đẩy bộ theo sau. Đoạn đường từ nhà anh đến Phát Diệm hơn 30km, chúng tôi đi 2 tiếng mới tới.

Chiều về, xem mấy bức ảnh chụp đôi ở Phát Diệm xem lại, tôi dương dương tự đắc:

- Tôi không vào, ai “khai sáng” cho ông.

Câu nói ấy vào tai người chấp chiếm thì không khéo tôi bị “chan tương đổ mẻ” vào mặt, nhưng Trần Viêm chỉ cười:

- Ảnh đẹp, thêm một kỷ niệm đẹp! Đói rồi, ăn cơm!

Thế mà giờ đây tất cả chỉ còn là kỷ niệm, nhà thơ Trần Viêm ơi! Bao ái, ố, hỉ, nộ cùng thân xác đã tan vào cát bụi, chỉ những bài thơ anh viết là còn lại trên đời. Những bài thơ ấy là minh chứng để khẳng định tác giả của nó là một chính nhân. Cả cuộc đời từ làm thợ đến làm thơ, anh không tranh giành chữ nghĩa, không mua danh, không tô son điểm phấn cho những gì mình làm được.

Ngồi viết về anh trong đêm khuya thanh vắng mà trong tôi vẫn ngân nga câu thơ anh viết ngày nào:

“Mặc cho sấp ngửa cuộc đời

Tôi là người của non Gôi, Phủ Giầy”.

Đêm 10/4/2018

L.V.C

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)