Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 48 khách Trực tuyến
Thầy thương trò vật vã với văn chương

Tôi muốn mượn câu của nhà thơ Hữu Thỉnh trong bài thơ “Thưa thầy” để mở đầu bài viết về nhà giáo Đoàn Minh Ngọc, người mà mỗi lần nhắc đến ông, bạn bè đồng nghiệp và các thế hệ học trò đều tỏ lòng ngưỡng mộ, kính phục.

Cách đây 5 năm tôi có dịp được gặp ông khi tham gia sinh hoạt ở Câu lạc bộ Hải Phòng học. Từ đó, chúng tôi thường xuyên đàm đạo văn chương. Và cứ mỗi lần tiếp xúc, tôi lại cảm nhận ở ông sự kết hợp hài hòa giữa vẻ thanh lịch của người Tràng An với phong cách chuẩn mực, mô phạm của một nhà giáo.

Năm 11 tuổi cậu bé Đoàn Minh Ngọc cùng gia đình xuống Hải Phòng sinh sống và theo học Trường cấp II Phan Chu Trinh, rồi trường  cấp III Ngô Quyền. Những mái trường thân yêu nép mình dưới mầu hoa phượng rực rỡ, đã khai sáng trí tuệ Đoàn Minh Ngọc. Hình ảnh những dẫy phố “cong hình trăng khuyết” (Vân Long) bên bờ sông Tam Bạc; mầu áo thợ cần lao; tiếng còi tàu ngày đêm từ bến cảng vọng về đã in sâu, nuôi lớn tâm hồn tuổi học trò để rồi sau này lớn lên, trưởng thành là một nhà giáo, ông coi Hải Phòng là quê hương thứ hai, hiến dâng cả cuộc đời cho nền giáo dục đất Cảng.

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm khoa Văn năm 1964, sau 3 năm dạy học ở Đô Lương (Nghệ An), thầy giáo Đoàn Minh Ngọc xin về Hải Phòng dạy các trường cấp III Quảng Thanh (nay là trường Quang Trung), Kiến Thụy và là tổ trưởng bộ môn Văn. Dạy và học trong hoàn cảnh chiến tranh, nhà trường phải sơ tán về xã Tân Phong, đời sống vật chất kham khổ, điều kiện làm việc thiếu thốn từ trường lớp đến sách vở, phương tiện... Những đêm trời rét thấu xương, ngồi bên ngọn đèn dầu tù mù chấm bài, soạn giáo án đến tận khuya. Những buổi tối mưa to, gió lớn lặn lội xuống nhà thăm học trò.; những ngày đi bộ 5-6 cây số tìm một học trò bỏ học động viên em trở lại trường; những giờ học bên cạnh hầm trú ẩn, học trò say sưa nghe thầy giảng bài “Đường chúng ta đi” (Nguyễn Trung Thành ); những lần đọc thư từ mặt trận gửi về với dòng chữ viết vội đầy xúc động “Thưa thầy, em đang trên đường hành quân vượt Trường Sơn. Em rất nhớ lớp, nhớ trường, nhớ các thầy cô, và các bạn. Em vẫn còn nhớ lời thầy giảng câu thơ  “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” (Cớ sao bọn giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời). Và người học trò giỏi Văn nhất lớp ấy đã mãi mãi không về...

Kể những chuyện ấy với tôi, đến đây giọng ông nghẹn lại, đôi mắt rưng rưng. Ông bảo đó là những kỷ niêm trong đời dạy học không thể nào quên. “Tấm lòng tôn sư trọng đạo của cha mẹ học sinh thật vô cùng quý giá và trân trọng. Trong hoàn cảnh nghèo khó vẫn nhường cơm sẻ áo, dành cho các thầy các cô nơi ăn chốn ở và điều kiện làm việc tốt nhất. Tôi tự nhủ phải tận tâm, tận lực dạy dỗ con em họ nên người...”.

Năm 1970 thầy được điều động về Trường cấp III Hải An. Chiến tranh ngày càng ác liệt, cuộc sống cũng gian nan vất vả hơn, nhưng rồi tất cả khó khăn thầy trò cũng vượt qua. Sự nghiệp giáo dục như cây đời vẫn vượt lên bom đạn, xanh tươi, đơm hoa, kết trái.

Năm 1976 thầy về Trường cấp III Ngô Quyền và làm Tổ trưởng bộ môn Văn. Tại đây thầy cùng các thầy Hà Thúc Chỉ, Đặng Đình Thông, Nguyễn Văn Vĩnh, cô Nguyễn Thị Lan... tổ chức nhiều hoạt động văn học trong nhà trường: Hội thảo ngoại khóa, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm, tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi...Những hoạt động này đã khơi dậy không khí sôi nổi dạy Văn, học Văn và được Ban Giám hiệu, Sở Giáo dục đánh giá cao.

Sau 15 năm đứng lớp, cuối năm 1979 thầy Đoàn Minh Ngọc được điều động về Sở Giáo dục làm chuyên viên phụ trách môn Văn khối THPT. Với cương vị mới, thầy tham mưu tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề, mở các lớp bồi dưỡng giáo viên dạy Văn, lớp bồi dưỡng học sinh giỏi Văn cấp thành phố, soạn thảo sách tham khảo chuẩn môn Ngữ văn theo chương trình đổi mới, góp phần đào tạo đội ngũ giáo viên giỏi môn Văn và nhiều học sinh đoạt giải Văn cấp quốc gia, cấp thành phố...

Tôi mạo muội hỏi ông về bí quyết giảng dạy văn học. Ông trả lời rất khiêm nhường:

- Mình chẳng có bí quyết gì đâu. Sau gần 40 năm gắn bó với văn học nhà trường, mình rút ra ba điều tâm niệm: Một là chữ tâm phải trong sáng, phải thật sự yêu nghề và thương yêu học trò: “Thầy thương trò vật vã với văn chương”. Hai là muốn truyền đạt kiến thức, gieo vào tâm hồn học trò cái hay, cái đẹp của văn chương thì trước hết ông thầy phải thật sự yêu văn chương, phải thật sự cảm xúc, rung động đối với tác phẩm mình giảng. Ba là phải không ngừng học hỏi tự trau dồi kiến thức cho mình, đạt đến trình độ như Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói “Người thầy phải biết mười dạy một”.

Ông kể cho tôi nghe câu chuyện: Một lần học trò cũ tổ chức họp lớp, mời thầy dự. Khi vừa đến cửa phòng họp thì một em nam ra ôm chầm lấy ông khóc và kể: “Hồi ấy nhà em nghèo lắm, mùa rét em chỉ mặc phong phanh chiếc áo mỏng, thầy đã bớt đồng lương ít ỏi mua cho em một chiếc áo bông”. Một em nữ nhắc lại ngày nào vào các Chủ nhật thầy tập trung học sinh nghèo dạy ôn thi, không nhận tiền bồi dưỡng, đến trưa thày còn bảo tất cả các em về nhà thầy cùng ăn bữa cơm độn mì với rau luộc, nước cáy... Ông bảo, mình đã từng nhiều đêm mất ngủ để nghĩ cách khai thác nhịp điệu, ngôn từ ẩn chứa trong  một  câu thơ, một đoạn văn để sáng mai lên lớp. Tôi biết, mua sách, đọc sách với ông đã thành thói quen. Trong nhà ông có tủ sách lớn cổ, kim đủ loại. Hèn nào mỗi khi trò chuyện,  tôi nhận ra  ông là người có kiến văn sâu rộng về văn chương, văn hóa.

Nhà giáo Đoàn Minh Ngọc còn tham gia nhiều hoạt động văn học xã hội và có những đóng góp rất đáng ghi nhận. Ông từng dự và đọc tham luận ở nhiều cuộc hội thảo cấp thành phố và quốc gia, nói chuyện văn học ở nhiều nơi, viết nhiều bài đăng tải trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương.

Bản tham luận có tựa đề: “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sách giáo khoa trung học phổ thông” sau khi điểm lại số tiết học về Nguyễn Bỉnh Khiêm được bố trí trong chương trình sách giáo khoa qua các lần thay sách từ 1964 đến 1983 càng ngày càng giảm dần, so sánh với số tiết dạy về các tác giả khác như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương..., ông đề xuất: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam” (Trường Chinh), cần phải được giảng dạy kỹ hơn, sâu hơn... Cần xác định lại vị trí của ông trong sách giáo khoa THPT...Ngoài bài văn học sử tìm hiểu về cuộc đời và văn thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cần có phần giảng văn chữ Hán và chữ Nôm tiêu biểu của Bạch Vân Cư sỹ, có phần đọc thêm mở rộng hiểu biết cho học sinh về Tuyết Giang Phu tử...”

Trong tham luận đọc tại Hội thảo nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du của ông có đoạn: “Nguyễn Du phiêu bạt nghèo khổ, bệnh tật trên đất Bắc 10 năm (1786-1796 )... rồi lặn lội về quê nội sống 5 năm...Cái nhìn đầy suy tư về con người, cuộc đời trong những năm biến động của thời thế; trái tim cùng đập với kiếp người đau khổ đã làm thay đổi cảm thức xã hội của Nguyễn Du. Thương người, thương mình là trăn trở của Nguyễn Du... điều này trở thành động lực và nguồn cảm hứng mãnh liệt mà thiết tha của ngòi bút Nguyễn Du....”

Và đây là đoạn ông viết về bài thơ “Nhớ Hải Phòng” của Nguyễn Đình Thi: “Mở đầu nỗi “Nhớ Hải Phòng” là tiếng còi trên sông Cấm, kết thúc bài thơ tác giả trở lại với tiếng còi trên sông Cấm ấy. Hai thời điểm lịch sử khác nhau, vẫn tiếng còi tầu nhưng âm hưởng hồn thơ của nhà thơ không giống nhau: Một niềm tin, niềm lạc quan của Hải Phòng chiến thắng đã xua tan nỗi buồn ngày nào...Nguyễn Đình Thi da diết nhớ Hải Phòng, người Hải Phòng cũng tha thiết nhớ Nguyễn Đình thi...”

Giảng dạy và sáng tác văn chương luôn có sự tương đồng. Nhà giáo Đoàn Minh Ngọc làm thơ từ rất sớm và đã có 2 tập thơ do Nhà xuất bản Văn học ấn hành: “Khoảng sáng” (2011), “Rộng và hẹp” (2014 ). Từ nền tảng kiến thức đã có và sự trải nghiệm, thơ ông đề cập đến cảnh, đến người, đến chuyện đời ở khắp mọi miền đất nước. Khi là nỗi buồn man mác trước nghĩa trang một chiều đông lạnh; khi bâng khuâng vào thăm một ngôi đền;  khi thả hồn theo cánh hải âu tung bay trên mặt biển; có khi lại là triết lý nhân sinh về thời gian giữa khoảng trống cách xa...Nhưng theo thiển nghĩ của riêng tôi, đậm nét nhất, sâu lắng nhất, để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc nhất là mảng thơ viết về nhà trường. “Đã về hưu gần gần chục năm trời/ Xa phấn trắng, bảng đen, lớp học/ Mái tóc pha sương, nghề khó nhọc/ Trống trường ơi! Vang vọng mãi trong đời”. Tôi muốn mượn câu thơ của ông để kết thúc bài viết, cũng là điều muốn nói về ông – một người thầy luôn dành những tâm huyết cho sự nghiệp “trồng người”.

Đinh Quyền


 
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)