Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 17 khách Trực tuyến
Nhà văn Duy Khán


Nhà văn Duy Khán

(1934 - 1993)


Duy Khán sinh năm 1934 tại thôn Sơn Trung, xã Nam Sơn, huyện Quế Võ. tỉnh Bắc Ninh

Đi bộ đội làm dạy học, phóng viên mặt trận, rồi làm phóng viên buổi Phát thanh Quân đội, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Nghỉ hưu với quân hàm đại tá

mất năm 1993 tại gia đình ở thành phố Hải Phòng.

- Đã được tặng thưởng: Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng

- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 cho tác phẩm “Tuổi thơ im lặng”

- Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012.


Chùa Hàm Long là ngôi chùa linh thiêng có tiếng của tỉnh Bắc Ninh. Xung quanh chùa là những làng quê nghèo của huyện Quế Võ. Những xóm thôn nằm thoai thoải quanh sườn đồi, bao bọc xung quanh là những lũy tre dày xanh mướt bốn mùa. Trong làng là những vườn cây ăn quả. Chiều về từng đàn cò trắng bay rập rờn trên luỹ tre và “lao xao” là hoà âm của các loài chim.

Một vùng quê nghèo nhưng phong cảnh sơn thuỷ hữu tình. Mỗi bước đi, mỗi cảnh vật đều thắm đẫm huyền tích.

Chỉ cách thị xã Bắc Ninh bốn, năm cây số nhưng những năm Pháp thuộc nơi đây là vùng tự do. Giặc Pháp và cả lũ Đại Việt thân Nhật không thể lập được vùng tề. Xã Nam Sơn quê anh phong trào du kích rất mạnh. Anh cả Nguyễn Đình Thư vào du kích, anh thứ hai Nguyễn Đình Thả tham gia bộ đội Thiên Đức đã anh dũng hy sinh.

Mới 15 tuổi đang học Thành Chung năm thứ ba của trường Hàn Thuyên Duy Khán đã tạm biệt gia đình lên chiến khu trở thành anh bộ đội cụ Hồ. Hôm lên đường hình ảnh người cha khắc mãi trong ký ức: “Vượt khỏi cách rừng đến đồi thông Sơn Ca tôi đứng lại nhìn. Tôi bất ngờ thấy bóng thầy ở cửa rừng mờ trong mưa, im như một pho tượng. Phía quê khói ùn ùn, đại bác nổ ập ình”.

Được đơn vị phân công dạy học, rồi làm phóng viên chiến trường, hầu như những chiến dịch lớn anh đều có mặt. Từ chiến trường Điện Biên đến đường Chín - Nam Lào. Suốt dải Trường Sơn đến đồng bằng Nam bộ. Từ Lạng Sơn, Cao Bằng đến đất Mũi Cà Mau. Từ Hoàng Liên Sơn đến Campuchia, chiến trường nào nóng bỏng là có ngay Duy Khán. Khi làm phóng viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội anh đã có thời gian khá dài ở quần đảo Trường Sa.

Ngoài những bài báo kịp thời, anh đã sáng tác thơ. Con đường sáng tạo văn chương của Duy Khán mở đầu bằng những bài thơ. Thơ anh mạnh mẽ, quyết liệt hoà cùng phong trào thơ chống Mỹ. Chủ đề chiến đấu, niềm say mê đánh giặc xuyên suốt trong thơ anh:

Bóng anh trùm bóng pháo

Vươn dài sang ngày mai

(Gà gáy)

Cùng với chủ đề chiến đấu là nỗi đau, niềm thương nhớ quê hương và chí căm thù giặc:

Anh chả biết ru nhưng biết tìm hỏi giặc

Đất nước này bao trẻ mất mẹ cha ?

(Tiếng ru)

Thơ Duy Khán không thể lẫn với dòng thơ khác. Đó là dòng thơ của những người lính trực tiếp cầm súng, trực tiếp chiến đấu. Những bài thơ Chiếu ơi!, Xuyên táo, Đồng đội, Lách cách, Tâm sự người đi... là tiếng nói, là tâm sự, là nỗi niềm của người lính. Những người lính ấy cái gốc, cái chất sâu thẳm tận cùng là người nông dân, người nông dân cầm súng:

Trăn trở thế ta nghe đất nở

Nghé gọi cho mình mùa sau...

(Gọi đồng)

Từ đầu cùng, đến tận cùng đất nước, niềm vui, nỗi đau vẫn là nỗi lòng da diết với đất:

Nước triều lên gõ mãi chân sàn

Ngã xuống rồi em ơi, vẫn đất

Đất đây mềm quyến luyến êm bông

Mát bên ngoài và mặn thấm vào trong.

(Đầu cùng đến tận cùng đất nước)

Đến đâu Duy Khán cũng có thơ. Năm 1972 anh xuất bản tập thơ Trận mới. Năm 1981 xuất bản Một tiếng Xa Ma Khi in chung với Xuân Miễn và Phạm Ngọc Cảnh. Năm 1985 xuất bản Tâm sự người đi. Những tập thơ của Duy Khán đã có chỗ đứng trong phong trào thơ chống Mỹ. Thơ Duy Khán đã có nét riêng, cách nói riêng trong bản hùng ca của những nhà thơ chống Mỹ.

Đến Tuổi thơ im lặng phát hành năm 1985 thì người ta gọi Duy Khán là nhà văn nhiều hơn là nhà thơ.

Những ngày ở trong căn gác nhỏ sáu mét vuông tại số 4 - Lý Nam Đế, Hà Nội làm phóng viên, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội; không khí văn chương sôi động, nghĩa tình đồng đội của một tập thể những người lính cầm bút đã cổ vũ Duy Khán rất nhiều. Anh viết về quê hương nghèo đói của mình, viết về những người trong gia đình, viết cho ba cậu con trai và những người nghèo khó.

Quê hương trong văn anh đẹp lạ kỳ lung linh, huyền ảo và đậm màu cổ tích. “Cái núi Của Tiên hoàn toàn giống cái bụng chửa to lắm, sắp đẻ. Khi mưa to nước trào từng dòng trắng xoá từ ngực cô tiên như những dòng sữa tràn trề, no ấm, cả làng tha hồ bơi lội trong sữa”.

Anh viết về những cây ăn quả trong vườn nhà, về tục khảo quả của ngày giết sâu bọ. Những buổi chiều chập chờn cánh cò trắng và lao xao là tiếng các loài chim như: bồ các, chim ngói, bìm bịp, chèo bẻo, diều hâu và cả quạ. Rồi đến con gà, con mèo, con chó, đều có những số phận riêng và gắn bó với con người; là một phần trong cuộc sống con người.

Anh viết về bà nội “hiền như đất”, về người cha làm nghề cắt tóc và câu cá quả, về anh Thư, anh Thả những ngày là du kích; về em Tịch có dáng đi liêu xiêu, về em gái Bảng hay hờn dỗi. Về người mẹ cả đời quang gánh trên vai. Đôi vai của người mẹ đã nói lên tất cả: “Trên đôi vai ấy ai đã để chiếc bánh dầy vào. Bánh dầy màu nâu sẫm, có lúc nứt ra. Cái năm mẹ leo lên núi gánh “đá dăm” xuống thuyền cho người ta chở lên tỉnh, ấy là cái năm vai mẹ nứt to nhất, mất một làn da rớm máu, dính cả vào đòn gánh. Con hỏi mẹ, mẹ bảo: Không đau, nó ê ra rồi”. Tôi bỗng nhớ một câu thơ của Nguyễn Du khi nói về thập nhị chúng sinh. “Đòn gánh tre chín rạn hai vai”. Khi nhớ lại cái thời gian khổ, cay cực ấy Duy Khán vẫn còn thảng thốt: “Kinh thật, chẳng rõ sức mạnh nào lại có thể giúp ông và đồng bào ông vượt qua được cái thời khổ đau ấy”.

Nhiều lần được trò chuyện và về quê Duy Khán cùng người em trai là Nguyễn Thanh Tịch (nguyên Phó ban Tuyên giáo Thị uỷ Bắc Ninh) tôi được anh Tịch cho xem những kỷ vật nhỏ của Duy Khán, những bức thư của anh gửi cho người em trai đều chan chứa yêu thương và lo cho nhau. Có lẽ tình thương của những người trong gia đình nghèo khó sau cơn hoạn nạn thì tình cảm càng tăng lên gấp bội.

Khát vọng yên bình, niềm ham sống, khát vọng sống đã giúp gia đình và cả những người dân thời đó vượt qua được giông bão của lịch sử: “Tối, cái Bảng dải chiếu manh giữa sân. Cả nhà ngồi ăn cơm trong hương lúa đầu mùa từ đồng Chõ thoảng về, trong tiếng sáo diều cao vút của chú Chàng, trong dàn nhạc ve, trong tiếng chó thủng thẳng sủa giăng. Ôi, cái mùa hè hiếm hoi. Ngày lao xao, đêm cũng lao xao. Cả làng xóm hình như không ai ngủ, cùng thức với trời, với đất. Tôi khát khao thầm ước: Mùa hè nào cũng được như mùa hè này”.

Tuổi thơ im lặng với phụ đề khiêm nhường: Những truyện nhỏ nhưng tiếng vang không nhỏ. Ngay năm sau 1986 đã được giải thưởng chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản nhiều lần và đến năm 2010 xuất bản Duy Khán tuyển tập (Nhà nghiên cứu văn học Ngô Vĩnh Bình chọn và giới thiệu). Nhà xuất bản Kim Đồng cũng tái bản nhiều lần và Tuổi thơ im lặng được chọn vào Tủ sách vàng, tác phẩm chọn lọc dành cho thiếu nhi.

Thời gian đó các báo, tuần báo có trang văn hoá, văn nghệ đều có bài về Tuổi thơ im lặng. Nhà thơ Đỗ Trung Lai gọi tập sách là “Văn chiêu hồn” của một thời, của một vùng. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong lời giới thiệu Tuổi thơ im lặng của Tủ sách vàng đã viết: “Tuổi thơ im lặng là cuốn tự truyện vào hàng hay nhất trong vòng vài thập kỷ trở lại đây. Các nhân vật, sự kiện... được thể hiện theo lối “chấm phá”, chỉ một vài trang nhưng gây ấn tượng thật mạnh, đọc một lần là không thể quên”.

Đôi lần tôi cùng anh Tịch, cháu Khoa đến nhà xuất bản lĩnh sách biếu và tiền nhuận bút của nhà văn Duy Khán. Chúng tôi đều bâng khuâng, cảm động nhớ tới Duy Khán, cả đời trong túi không có nhiều tiền. Khi anh mất, anh Tịch cất chiếc áo măng tô của anh lục tìm trong túi chỉ có 500đ (không đủ để uống một chén trà). ấy thế mà anh lại rất hào phóng đối với người nghèo khó: “Một buổi tối mưa to, Duy Khán thấy một bác xích lô trạc tuổi mình đạp xe qua đường ướt lướt thướt. “Dừng lại!”. Duy Khán kêu lên, bác xe dừng lại tưởng có người cần đi xích lô. Duy Khán chạy vào nhà lấy chiếc áo bạt quân nhân của mình trao cho bác xe: “Mặc vào kẻo lạnh, thôi đi đi !”. Duy Khán nói xong quay vào nhà, còn bác xe chưa hiểu ra sao”. Sau ngày giải phóng miền Nam vào Sài Gòn với niềm vui của người chiến thắng nhưng anh cứ day dứt, dằn vặt khi đi ra đường có em nhỏ ít tuổi hơn con anh đến xin tiền mà trong túi anh không còn đồng nào. “Ăn làm sao nổi, uống làm sao nổi khi ngoài đường kia vẫn còn những người nhịn đói, bò lê lết trong rác bẩn. Sáng nay có một thằng bé nhỏ hơn thằng Khánh, thằng Khoa (tên hai đứa nhỏ con anh) bụng đói lép, ngửa tay xin tôi một vài đồng tôi đã không có tiền để cho nó (theo lời kể của nhà thơ Vương Trọng).

Dễ vui, dễ buồn, dễ khóc và rất dễ xúc động là một đặc điểm trong tính cách của Duy Khán, con người dễ say, dễ tỉnh ấy bên trong lại là một bản lĩnh vững vàng, một chất thép. Trong lần ra quần đảo Trường Sa mọi người đều bị say sóng riêng Duy Khán thì không, anh tỉnh táo và chăm sóc mọi người, anh cười nói vui: “Mình hay say rượu rồi thì thôi say sóng”.

Đến Trường Sa anh sống như một người lính Hải quân. Anh viết được một trường ca và tập hồi ký Biển thức. Đáng tiếc bản thảo tập hồi ký bị thất lạc đến nay vẫn chưa có hồi âm. Sau thời gian ở Trường Sa trở về, nhà thơ Phạm Tiến Duật đến thăm và tặng hai câu thơ:

Một nhà thơ đi sáu nghìn cây số biển

Về ở căn buồng sáu mét vuông.

Anh vui vẻ đọc tiếp:

Mỗi ngày đôi chén rượu suông

Văn chương đầy ắp căn buồng con con.

Hai anh cùng cười vui và chuyển sang thưởng trà, trà Duy Khán pha rất ngon, anh không nói pha trà mà bảo hoà chè. Anh uống trà theo kiểu tiên phong đạo cốt. Tay cầm chén trà màu da lươn nhỏ xíu và nhấp, dáng thanh

cao và hơi điệu đà. Phòng văn của anh rất ngăn nắp, gọn gàng. Anh say sưa nói dự định của mình. Sau hồi ký Biển thức sẽ là một hồi ký về tuổi thơ nữa, không dữ dội nhưng sẽ chẳng lặng im.

ấy thế mà anh đột ngột mất ngày 29 tháng Giêng năm 1993 tại thành phố Hải Phòng. Những ngày về sống ở Hải Phòng đời sống của anh đã khá hơn. Cháu Khánh đã làm ăn thành đạt tại thành phố Hồ Chí Minh. Cháu Khoa, cháu Khải đã mở cửa hàng mua bán vật liệu xây dựng ở Hải Phòng. Anh vẫn hẹn sẽ về thăm lại quê hương, thăm lại căn nhà đã sống những ngày “Tuổi thơ im lặng”.

Anh đã phiêu diêu nơi cực lạc để lại cho vợ con, anh em bầu bạn niềm nhớ tiếc mênh mang. Anh đã để lại cho đời những vần thơ cháy bỏng; để lại cho đời những trang văn lung linh, huyền ảo nhưng rất đỗi chân thành. Những trang văn mà anh đã khắc ghi lại những ngày cực nhọc mà gia đình anh, dân làng anh đã vượt qua như một kỳ tích. Cuộc đời còn nghèo đói, còn những người nghèo khổ thì “Tuổi thơ im lặng” còn đập mãi trong trái tim con người./.


Trần Anh Trang (Bắc Ninh)

17 tháng 5 năm 2012



 
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)