Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 11 khách Trực tuyến
Nhớ nhà thơ Nguyễn Viết Lãm

 

Một đêm, trong căn hộ nhỏ bé khu tập thể Vạn Mỹ, Hải Phòng, tiếng gõ máy chữ thưa dần rồi ngừng hẳn, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm đã đánh xong dòng số 12/9/1994 ghi ngày khép lại trang cuối cùng những lời tự bạch. Ngày ấy với mọi người không gợi một điều gì nhưng với nhà thơ là một ngày buồn nhớ: 5 năm trước, bạn ông - nhà thơ Chế Lan Viên qua đời. Ông viết:“Sáng ngày 19/6/1989 bỗng nhiên thấy nóng ruột nhớ Chế Lan Viên. Tôi khép cửa phòng lại, ngồi một mình, viết bài thơ “Nguyện cầu” gửi cho bạn, nhắc lại kỷ niệm ngày xưa và cầu nguyện cho bạn bình yên. Nhưng chính trong buổi sáng ấy, tại thành phố Hồ Chí Minh, Chế Lan Viên trở bệnh và vĩnh biệt. Tôi thường tự hỏi sao lại có điều trùng hợp như vậy? Sau đó lúc ra Hà Nội dự Đại hội Nhà văn lần thứ tư (tháng 11/ 1989), chị Vũ Thị Thường mang ra cho tôi bức thư cuối cùng dày 8 trang Chế Lan Viên viết cho tôi mà chưa kịp gửi, cầm thư trên tay, tôi không sao cầm được nước mắt!”.

 

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm


Tự bạch của Nguyễn Viết Lãm sau được in trên tạp chí Cửa Biển số 22, tháng 1/1995 với tiêu đề Lời nguyện, năm 2008 ông đổi là Lời nguyền và in trong tập sách cùng tên do Hội VHNT Quảng Ngãi và NXB Đà Nẵng xuất bản - quà mừng của quê hương nhân ông tuổi 90. Tự bạch ấy là kỷ niệm về quê hương, gia đình và bè bạn thuở trường Quốc học Quy Nhơn, nơi ông và Chế Lan Viên trở thành thân thiết. Những dòng cuối ông viết trong nỗi thổn thức, còn Ban biên tập tạp chí Cửa Biển khi đọc không khỏi cảm thấy ớn lạnh. Ông như thể sắp đi theo Chế Lan Viên đến nơi: “Tôi viết những dòng này khi tôi đã 75 tuổi. Lời nguyện cuối đời là xin dành mối ân tình sâu đậm nhất, xin đem chút ngậm vành kết cỏ, đền đáp những gì mà tôi thụ hưởng được từ cuộc đời.”. Khi đưa vào tập Lời nguyền ông có sửa lại đôi chút: “Tôi viết những dòng này khi tuổi đã cao. Lời nguyện cuối đời trước khi đi vào cõi vĩnh hằng…”. Sau này ông kể, khi viết ông thấy trong người khác thường, may sao sau đó giời cho ông khỏe trở lại, sống khỏe và viết khỏe, ông vào Nam ra Bắc, lên Yên Tử leo núi phăm phăm. Ngay khi tuổi đã 80 tâm hồn ông vẫn lai láng, để yêu, tục huyền và làm thơ tặng vợ: Cuộc đời anh dù đã bước sang đông/Vẫn xin nhận mùa thu trời đất/Anh đang đến với mùa thu hạnh phúc/Nắng hè xưa giữ lửa trong lòng/Em đã gửi mùa thu anh giữ hộ/Nay xin trao nguyên vẹn ánh trăng rằm/Khi tìm anh, em cần chi hỏi gió/Hỏi lưu ly, hoa nở tím bên thềm.

Năm 88 tuổi ông còn dành gần hai tiếng đồng hồ kể cho nhà văn Cao Năm về nhóm thơ Quy Nhơn những năm 1934-1939 với một trí nhớ đáng phục, tới mức Cao Năm phải thốt lên: không thể ngờ ở tuổi ông lại còn nhớ dai, nhớ bền, nhớ kỹ được đến thế.

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm sinh ngày 15/6/1919. Đàn anh nhưng không hơn tuổi ông bao nhiêu đều đã khuất cách đây tới hơn nửa thế kỷ, như Hàn Mặc Tử (1912-1940), Bích Khê (1916-1946), chỉ Quách Tấn (1910-1992) là dai dẳng nhưng cũng không được bằng ông. Cùng trà lứa hầu hết cũng đã ra đi, như Xuân Diệu (1917-1985), Chế Lan Viên (1920-1989), Yến Lan (1916-1998), Tế Hanh (1921-2009). Mà ông nào sức vóc gì, khi đặt nhà điêu khắc Nguyễn Khắc Nghi làm tượng cho ông, bà Phan Thị Đoan Trang giao hẹn tượng phải đúng 47 kg đồng, bởi chồng bà khi nặng nhất cân lạng là như vậy! Thật đúng như nhạc sĩ Trần Hoàn nói, “Nguyễn Viết Lãm gầy gầy, xương xẩu mà sống khá bền”. Ông thường nhắc đến Khương Hữu Dụng (1907-2005) làm tấm gương sống bền để vươn tới, bà Đoan Trang thì ao ước ông sống đến 115 tuổi để bà tròn 100! Nhưng cuối cùng thì nhà thơ của chúng ta vẫn không thể cưỡng được với quy luật của đời người: Đêm 14/2/2013, mồng 5 Tết Quý Tị, ông ngã, đầu chảy nhiều máu và qua đời hồi 5 giờ 30. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm là người cao tuổi thứ nhì Hội Nhà văn Việt Nam sau Học Phi (sinh 1913), ông đi, vị trí thứ nhì giờ là Nguyễn Xuân Sanh và Tô Hoài, cùng sinh năm 1920.

Nguyễn Viết Lãm viết trong Lời nguyền: “Quảng Ngãi quê tôi là một tỉnh nhỏ nghèo miền Nam Trung bộ, ngày xưa là một thị xã ít người thưa phố, quanh năm vắng lặng. Cha tôi là nhân viên của trường tiểu học tỉnh, ngôi trường độc nhất của vùng này. Hằng ngày ông thường đưa tôi đi theo đến nơi ông làm việc. Tối đến, hai cha con cùng về ngôi nhà lá nhỏ góc vườn trường… Niềm rung cảm của tôi gắn liền với nỗi khổ đau của mẹ tôi. Mẹ tôi tần tảo nuôi chúng tôi, quanh năm nợ nần đói khổ…”.

Nguyễn Viết Lãm kể:“Bình Định có bốn nhà thơ được gọi là Bàn Thành tứ hữu, sau mang tên Thái Dương văn đoàn, gồm Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan. Từ năm 1935 trở về sau Quách Tấn rời Bình Định vào làm việc ở Nha Trang.”(1). Cũng năm 1935 Nguyễn Viết Lãm xuống Quy Nhơn học trường Quốc học. Ông học năm trước, Chế Lan Viên học năm sau. Đội ngũ những người làm thơ ở Quy Nhơn đông hơn trước, chủ yếu học tại trường Quốc học. Nhóm thơ này đông nhưng thường nói đến bốn người là Hàn Mặc Tử đứng đầu, rồi Chế Lan Viên, Nguyễn Hạnh Đàn (Nguyễn Viết Lãm), Yến Lan vì suốt những năm 1935-1939 họ gắn bó và gặp nhau thường xuyên, những người khác chỉ thỉnh thoảng. Gọi là nhóm thơ, thực ra chỉ vì yêu thơ mà gần gũi nhau chứ không hình thành tổ chức quy củ, không được đặt tên, không có tuyên ngôn nên gần đây một số bài viết cho rằng không hề có “Nhóm thơ Quy Nhơn” (2). Dù thế nào thì đúng là nửa cuối những năm 30 thế kỷ trước ở Quy Nhơn xuất hiện khá đông người làm thơ. Hàn Mặc Tử lúc này đã nổi tiếng với tập Gái quê, Chế Lan Viên mới có ít thơ đăng trên báo nhưng năm 17 tuổi (năm 1937) bất chợt gây niềm “kinh dị” với làng thơ cả nước với tập Điêu tàn. Nguyễn Viết Lãm khi này lại viết truyện và từng có truyện ngắn Bài ca hận tình đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, sau đó vì yêu thơ hơn nên chuyển hẳn sang thơ với bài Thời mơ đăng trên tạp chí Tao đàn năm 1936 và Trăng vào cửa tháp viết tại Quy Nhơn năm 1937. Cái không khí u buồn của tháp Chàm cũng như nỗi hoài cổ về một thời đã mất khiến cả Chế Lan Viên và Nguyễn Viết Lãm đều chung một tâm trạng - sự đồng điệu trong tâm hồn họ gắn bó từ đó đến tận sau này:

Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ/Quay về xem non nước giống dân Hời/Đây, những tháp gãy mòn vì mong đợi/Những đêm xưa đổ nát dưới thời gian/Những sông vắng lê mình trong bóng tối/Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than/Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn/Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi…

(Chế Lan Viên: Trên đường về - tập Điêu tàn)

Ai đến tìm chi vương quốc cũ/Vành nôi xưa bặt tiếng ru Hời/Thánh thót sương khuya từng giọt điểm/Huyền hồ đỉnh tháp bóng trăng soi

(Nguyễn Viết Lãm: Trăng vào cửa tháp)

Cuối năm 1938 Nguyễn Viết Lãm ra trường, trở về Quảng Ngãi dạy học. Chế Lan Viên ra trường năm sau, về quê ở Quảng Trị rồi ra Hà Nội. Hàn Mặc Tử bị bệnh phong phải vào ở hẳn nhà thương. Những người gắn bó với nhau nhất giờ mỗi người một nơi, nhóm thơ Quy Nhơn thế là tan tác.

Hòa vào trào lưu Thơ mới nhưng thơ Nguyễn Viết Lãm không gây được ấn tượng với Hoài Thanh-Hoài Chân nên không có mặt trong Thi nhân Việt Nam. Kể cả trong tập Thơ mới 1932-1945 tác giả và tác phẩm của NXB Hội Nhà văn 2004 cũng không có ông. Có lẽ tạm đồng ý với nhận định sau: “Nguyễn Viết Lãm xuất hiện khi Thơ mới đã hưng vượng, trên thi đàn đã có những ngôi sao sáng thu hút sự chú ý của tất cả mọi người…một vài tứ thơ, đôi dòng dịu nhẹ, tinh tế của thi nhân đã khó lòng đọng lại trong lòng người vốn nhiều khi rất đỗi thờ ơ”(3).

Người ta sống bằng những kỷ niệm gắn bó với mình, nhất là kỷ niệm của thời hoa niên, nên không trách được Nguyễn Viết Lãm tại sao chỉ say mê nói về nhóm thơ Quy Nhơn, trong tập Lời nguyền ông có đến 6/19 bài về nhóm này; công bằng mà kể nhóm thơ ấy đáng nói chỉ có Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên - như vậy thôi cũng đã đủ làm vẻ vang cho một vùng đất. Nguyễn Viết Lãm hồi ấy có thể không biết, nhưng sau này tất nhiên là biết nhưng chưa bao giờ thấy ông đả động đến Hải Phòng những năm 1930, 1940 - thành phố Cảng lúc này mới thật sự là một trong những cái nôi của nền văn học nghệ thuật mới với mọi loại hình nghệ thuật, loại hình nào cũng có tác giả tác phẩm nổi trội, chứ không riêng gì thơ. Đó là Thế Lữ - ông vua Thơ mới; Vi Huyền Đắc - tác giả hàng đầu của kịch trường Việt Nam, với vở kịch Kim tiền, đã cùng Nguyên Hồng với tiểu thuyết Bỉ vỏ chia nhau giải thưởng lớn nhất của Tự Lực văn đoàn năm 1937; rồi các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi; các nhạc sĩ Lê Thương, Hoàng Quý, Văn Cao và nhóm Đồng Vọng, cùng Đỗ Nhuận xuất hiện cuối thời kỳ này; Mai Trung Thứ, một trong 6 họa sĩ tốt nghiệp khóa I (1925-1930) Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương; và sẽ rất thiếu sót nếu như không kể đến Khái Hưng, một trong ba “chủ soái” của Tự Lực văn đoàn cũng như em ông là nhà văn Trần Tiêu. Lĩnh vực biểu diễn có Ban kịch Thế Lữ; nhóm Đồng Vọng; nghệ sĩ ái Liên - người bắt đầu sự nghiệp ở Hải Phòng, sau vào Sài Gòn trở thành ca sĩ cải lương nổi tiếng, hát hay và xinh đẹp nên người hâm mộ gọi là “Bông hồng á Đông”. Cũng sẽ thiếu sót nếu như không nói đến Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố và nhiều nhà văn khác, những người thường xuyên đi về Hải Phòng, kiểu như Quách Tấn ở Nha Trang thỉnh thoảng về quê tụ họp với các nhà thơ Quy Nhơn …

Tháng 8/1945, Cách mạng thành công, Nguyễn Viết Lãm tham gia Ban Tuyên truyền văn hóa tỉnh Quảng Ngãi. Trong kháng chiến chống Pháp ông là ủy viên thường trực Liên đoàn Văn hóa kháng chiến miền Nam Trung bộ, ủy viên BCH Chi hội Văn nghệ Liên khu 5, Hội trưởng Hội Văn nghệ Quảng Ngãi.

Hòa bình lập lại Nguyễn Viết Lãm tập kết ra Bắc, năm 1956 là Thư ký ban Văn nghệ thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam, năm 1957 tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam và là Chánh văn phòng đầu tiên của Hội (1957- 1960), biên tập viên tạp chí Văn nghệ. Hải Phòng lúc này hoàn toàn xa lạ với Nguyễn Viết Lãm, có chăng chỉ là lần cùng đoàn khoảng dăm văn nghệ sĩ từ Hà Nội được cử xuống thành phố Cảng sau ngày giải phóng chắc là để phản ánh tình hình nhưng khi trở về chẳng ai viết vẽ được gì, có chăng chỉ là ấn tượng về một thành phố ngập ngụa rác rưởi địch vứt lại, bến cảng vắng lặng, các kho tàng trống rỗng và buổi trưa các văn nghệ sĩ phải nghỉ ngay trên nền xi măng một nhà kho trong cảng.

Sau sự kiện Nhân văn-Giai phẩm, nhận thấy cần giúp giới sáng tác nắm bắt được thực tế sinh động của đất nước, Đảng đã tổ chức nhiều chuyến thâm nhập sâu thực tế cho văn nghệ sĩ, tiếp tục truyền thống “ba cùng” thời kháng chiến chống Pháp và cải cách ruộng đất. Năm 1958 Nguyễn Viết Lãm về Hải Phòng và ở lại chừng một năm, trực tiếp tham gia lao động với đội bốc vác 13 của cảng, sức vóc như ông không hiểu bốc vác được bao nhiêu, chỉ biết những lần theo tàu ra Hạ Long đã cho ra đời bài thơ hay Hạ Long đêm bốc vác với những câu chỉ “ba cùng” với những người bốc vác mới có: Tim biển đập dưới chân người bốc vác; Ta cắm vững bàn chân trên biển rộng/ Vai ghép cầu cho quặng chuyển ra khơi; Yêu đất nước đôi vai càng không nghỉ/ Trăng hãy chờ ta, trăng vội chi về…

Hải Phòng lúc này gần như là con số “không” ở chính lĩnh vực văn học nghệ thuật từng làm thành phố tự hào. Các văn nghệ sĩ vào vùng kháng chiến, hòa bình lập lại về xuôi và ở lại Hà Nội! Chỉ có nhạc sĩ Trần Hoàn, ông được cử về chứ không từng ở Hải Phòng, vả lại cũng để làm công tác quản lý và phong trào là chính. Nhưng với một thành phố như Hải Phòng khoảng trống văn học nghệ thuật là không thể. Một vài cây bút bắt đầu manh nha. Giới đàn hát tụ tập. Rạp hát mở cửa trở lại. Cần phải tập hợp, bồi dưỡng những tài năng chớm hé. Công lao gây dựng thuộc về Trần Hoàn và Phòng Văn nghệ Sở Văn hóa. Trại sáng tác được mở, các văn nghệ sĩ trung ương được mời về giúp. Trần Hoàn lên Hà Nội vận động các ban ngành xin Nguyên Hồng, Nguyễn Viết Lãm về Hải Phòng. Nguyễn Viết Lãm bằng lòng về Hải Phòng một phần bởi vợ ông công tác ở một Trường học sinh miền Nam, trường này từ Hà Đông chuyển về Hải Phòng nên nhà thơ cũng muốn được gần gia đình.

Tháng 7/1962 Ban vận động thành lập Chi hội Văn nghệ Hải Phòng ra đời. Các trại sáng tác được mở, tờ Sáng tác văn nghệ Hải Phòng được xuất bản. Ngày 4 và 5/1/1964 Đại hội lần thứ nhất thành lập Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng tiến hành trọng thể tại Nhà hát Lớn. Thay mặt Ban vận động, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm đọc báo cáo về hoạt động của Ban. Điều này cho thấy vị trí quan trọng của ông trong Ban. Những năm này các chức danh lãnh đạo cơ quan, đoàn thể đều do tổ chức sắp xếp bằng cách này hoặc bằng cách khác nên nhà văn Nguyên Hồng làm Chi hội trưởng, nhạc sĩ Trần Hoàn làm Chi hội phó kiêm Bí thư Đảng đoàn, ông Văn Tiến, Phó giám đốc Sở Văn hóa làm Thư ký. Hải Phòng mới sáp nhập với Kiến An ngày 1/1/1963 và Văn Tiến, Giám đốc Ty Văn hóa Kiến An trở thành Phó giám đốc Sở Văn hóa Hải Phòng hợp nhất, vì vậy cho dù không công sức trong Ban vận động, không phải “dân văn nghệ”, tổ chức thấy cần phải có ông làm Thư ký! Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm chỉ là Phó thư ký.

Tuy đứng đầu tổ chức văn học, nghệ thuật thành phố nhưng Nguyên Hồng vẫn thuộc biên chế và hưởng lương ở Hội Nhà văn Việt Nam. ít lâu sau không hiểu giận dỗi điều gì, đùng cái ông bỏ Hà Nội, bỏ biên chế, bất cần sổ lương thực và các loại tem phiếu, những thứ hết sức thiết yếu lúc bấy giờ, kéo cả nhà trở lại ấp Cầu Đen mãi tít trên Yên Thế, Bắc Giang. Chỉ cô con gái thứ tư là Thanh Thư vì đang làm ở Hải Phòng nên còn ở lại, tại khu tập thể Cầu Tre!

Nhưng Nguyên Hồng không bỏ anh em văn nghệ Hải Phòng, chỉ có điều khi ở Hải Phòng khi lên Hà Nội khi về Bắc Giang. Trần Hoàn, Văn Tiến kiêm nhiệm, nói như chính Trần Hoàn thì hai ông “lút đầu” với công việc của Sở Văn hóa nên hầu hết công việc của Hội Văn nghệ đều qua tay Nguyễn Viết Lãm, ông “thực sự trở thành trợ thủ đắc lực cho Đảng đoàn trong công tác của Hội” như Trần Hoàn thừa nhận(4). Khi chiến tranh phá hoại của Mỹ trở nên ác liệt, cơ quan Hội sơ tán sang xã Đặng Cương, huyện An Dương, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm có nhiệm vụ thường trực, ở lại Hải Phòng để giao thiệp với khách và các tác giả. Nhiều hôm một mình ông đạp xe đến Hội hoặc sang Đặng Cương trên con đường vắng lặng, máy bay gào rít trên đầu, đạn bom ầm ầm. Công lao như thế nhưng tận khi nghỉ hưu đến chức Chi hội phó (nay tương đương  với Phó Chủ tịch Hội) ông cũng không được! Tháng 9/1967 Trần Hoàn vào chiến trường miền Nam, Văn Tiến thay làm Chi hội phó; Nguyễn Viết Lãm được đôn lên ghế Thư ký. Và chấm hết! Vì năm 1980 Văn Tiến nghỉ hưu, cũng là lúc Nguyễn Viết Lãm… sang tuổi 61! Ai ở đời cũng ít nhiều ẩn ức, Nguyễn Viết Lãm và ông Văn Tiến đôi lúc “vênh” nhau là vì vậy. Chủ tịch Hội, nhà văn Nguyên Hồng vẫn đi về Hải Phòng như cái bóng nên cần có người phụ trách Hội và một lần nữa tổ chức lại cử một ông “phi văn nghệ” về, đó là nhà báo Phạm Bá Chi.

Nhưng đời luôn công bằng và bù đắp cho những thiệt thòi, thế hệ các nhà thơ Hải Phòng trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ không bao giờ quên công lao Nguyễn Viết Lãm đào tạo họ và đổ tâm sức cho tạp chí Cửa Biển thuở ban đầu. Công lao ấy được truyền lại thế hệ sau qua các bài viết trên Cửa Biển và cuốn sử 45 năm Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng. Hội Nhà văn Việt Nam cũng không quên ông, một trong những hội viên sáng lập, Chánh văn phòng đầu tiên của Hội nên khi ông qua đời, nhà thơ Hữu Thỉnh đã nhận trách nhiệm trưởng ban tang lễ, trực tiếp viết và đọc điếu văn tiễn đưa ông. Điều đó thiết nghĩ hơn rất nhiều lần các chức vụ ông xứng đáng được nhận mà không được.

Theo nhạc sĩ Trần Hoàn, nếu như Nguyên Hồng là người xuề xòa, làm việc giàu chất “nghệ sĩ” thì Nguyễn Viết Lãm chững chạc và tương đối chặt chẽ trong cung cách làm việc, đôi lúc hơi khắt khe. Nguyễn Viết Lãm “thông tuệ, có kiến thức văn học, có sức viết dồi dào” và giỏi tiếng Pháp (5). Thơ ông giàu cảm xúc và nhạc điệu. Nhiều người từng nghe hoặc đã từng hát những câu sau đây nhưng có thể không biết đó chính là bài thơ Ân tình của ông được nhạc sĩ Vũ Loan phổ nhạc: “Ta đi trên sông, nghe thuyền nói biết ơn dòng nước/Nghe con đường nói biết ơn cây/Nghe đồng cát biết ơn bóng mây/Nghe nắng xuân nhớ mùa chim én…”.

Nguyễn Viết Lãm còn có bút danh Nguyễn Hạnh Đàn, Việt Chi, Thạch Bích, Tường Khanh. Ông để lại 12 tập thơ, 4 tập truyện, ký và nghiên cứu - phê bình văn học, 5 tác phẩm phẩm dịch cùng rất nhiều bài báo. Trong các giải thưởng nhận được đáng chú ý có Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm (về thơ), Giải thưởng Khoa học Nguyễn Bỉnh Khiêm (nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm), giải thưởng của ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam (tập thơ Hương ngâu).

Suy nghĩ về nghề văn, Nguyễn Viết Lãm cho rằng: “Văn là cái đẹp, định nghĩa theo từ nguyên ấy đã được thống nhất trong nhận thức về văn hóa của nhiều thế hệ. Làm nghề văn tức là đi tìm cái đẹp và mang cái đẹp ấy phục vụ cho đời nên nhà văn phải giữ gìn cái đẹp của tâm hồn, trân trọng cái đẹp của cuộc sống. Đó là nguồn ánh sáng xua tan hoặc cải tạo tiêu cực trở thành tích cực, mang lại yêu thương và hạnh phúc cho mọi người.”(6). Cuộc đời và sự nghiệp của chính nhà thơ Nguyễn Viết Lãm là bằng chứng sinh động nhất cho quan niệm này./



(1) Nhớ Chế Lan Viên, in ở tập Lời Nguyền, Hội VHNT Quảng Ngãi và NXB Đà Nẵng xuất bản, 12/2008. Bàn Thành, từ chữ Chà Bàn (còn gọi Đồ Bàn), phiên âm từ tiếng Chăm Vijaya, tên một trong những kinh đô xưa của người Chiêm Thành, nay thuộc xã Nhơn Hậu, cách thành phố Quy Nhơn 27km về phía Bắc.

(2) Theo Từ điển văn học, NXB Khoa học xã hội, 1984, thì những năm đầu thế kỷ XX nước ta chỉ có những nhóm văn học sau đây: Đông Dương tạp chí, Hàn Thuyên, Nam Phong, Tân dân, Thanh nghị, Tri tân, Tự lực văn đoàn. Ngay Xuân Thu nhã tập cũng không được gọi là nhóm mà chỉ là tập sáng tác của  một số tác giả gồm nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu, mặc dù trong tập có tuyên ngôn.

(3) Nguyễn Thanh Tâm: Nguyễn Viết Lãm mỏng manh áo sương qua miền Thơ mới - Tạp chí Cửa Biển, số 125 - tháng 8/2012

(4)Trần Hoàn - Thanh Hồng: Những kỷ niệm khó quên về Hải Phòng, chương “Nhớ về Chi hội của tôi” - NXB Hải Phòng, 2000.

(5) Trần Hoàn - Thanh Hồng, Sdd

(6) Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội Nhà văn, 2010.tr.780.



 
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)